- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Quỹ cơ hội Đắk S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S đối với bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/DS-ST Ngày 28-6-2023 V/v“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Tài
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Hải và bà Võ Thị Thanh Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thuý Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 329/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk Song.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Minh H – Trưởng điểm; địa chỉ: Tổ dân phố a, Thị trấn Đức A, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Phương D, sinh năm: 1979; địa chỉ: Bon Bu N, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm: 1977; địa chỉ: Bon Bu N, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31-10-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án bà Đỗ Thị Minh H trình bày: Căn cứ hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 được ký kết giữa bà Trần Thị Phương D và điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S. Điểm giao dịch huyện Đăk S đã giải ngân cho bà D số tiền 20.000.000đồng với lãi suất 0,95%/tháng, thời hạn vay 24 tháng, ngày đến hạn là ngày 11-6-2022. Tính đến ngày 31-10-2022 bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N đã trả được số tiền gốc là 4.600.000đồng và đã thanh toán lãi đến ngày 05-5-2022. Sau đó, bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N không trả gốc và lãi, mặc dù phía Qũy cơ hội huyện đã rất nhiều lần làm việc trực tiếp, gặp gỡ động viên và làm bản cam kết trả nợ nhưng bà Trần Thị Phương D và ông N đều không hợp tác và cố tình chây ỳ không trả nợ. Đến nay bà D và ông N vẫn chưa thanh toán món nợ gốc là 15.400.000đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 05-5-2023 đến nay.
Nay đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đăk Song giải quyết buộc bà D và ông N phải trả cho Điểm giao dịch Qũy Cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế số tiền gốc còn lại là 15.400.000đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 05-5-2023 là 2.522.774đồng, tổng số tiền 17.922.774đồng và yêu cầu trả tiếp tiền lãi từ ngày 06-5-2023 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng.
Đối với bà Trần Thị Phương D là bị đơn và ông Nguyễn Hữu N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh thì được biết bà Trần Thị Phương D là bị đơn và ông Nguyễn Hữu N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bon Bu N, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông, hiện nay đều có mặt tại địa phương nhưng đều không hợp tác với Toà án để giải quyết vụ án. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và theo quy định của pháp luật nên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N đều không hợp tác với Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và xét xử vắng mặt là đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 được ký kết giữa bà Trần Thị Phương D và điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không vi phạm điều cấm của pháp luật. Như vậy, hợp đồng tín dụng là hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Thời hạn vay 24 tháng, ngày đến hạn là ngày 11-6-2022, trong thời gian thực hiện hợp đồng bà Trần Thị Phương D đã trả được số tiền gốc là 4.600.000đồng và đã thanh toán lãi đến ngày 05-5-2022, Sau đó, bà D và ông N không trả gốc và lãi, mặc dù phía Qũy cơ hội huyện đã rất nhiều lần làm việc trực tiếp, gặp gỡ động viên và làm bản cam kết trả nợ nhưng bà D và ông N đều không hợp tác và cố tình chây ỳ không trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng nên đã vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã ký kết đối với điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 275, Điều 280 của Bộ luật dân sự, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk Song. Buộc bà D và ông N phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả tính tến ngày xét xử là 18.261.87059 đồng, (trong đó: Tiền gốc là 15.400.000đồng, tiền lãi tính đến ngày 28-6-2023 là 2.861.870 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 29-6-2023 theo hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 cho đến khi trả hết nợ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Phương D là bị đơn và ông Nguyễn Hữu N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bon Bu N, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông, hiện nay đều có mặt tại địa phương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông là nơi bị đơn cư trú, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật đang có tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp hợp đồng tín dụng (tranh chấp hợp đồng dân sự) quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Đối với bà Trần Thị Phương D là bị đơn và ông Nguyễn Hữu N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N là có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bà Đỗ Thị Minh H là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về nội dung vụ án: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Đăk Song buộc bà D và ông N phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả tính đến ngày xét xử là 18.261.870đồng, (trong đó: Tiền gốc là 15.400.000đồng, tiền lãi tính đến ngày 28-6-2023 là 2.861.870 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 29-6-2023 theo hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 cho đến khi trả hết nợ.
Hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 được ký kết giữa bà Trần Thị Phương D và điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không vi phạm điều cấm của pháp luật. Như vậy, hợp đồng tín dụng là hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Thời hạn vay 24 tháng, ngày đến hạn là ngày 11-6-2022, trong thời gian thực hiện hợp đồng bà D đã trả được số tiền gốc là 4.600.000đồng và đã thanh toán lãi đến ngày 05-5-2022, Sau đó, bà D và ông N không trả gốc và lãi, mặc dù phía Qũy cơ hội huyện đã rất nhiều lần làm việc trực tiếp, gặp gỡ động viên và làm bản cam kết trả nợ nhưng bà D và ông N đều không hợp tác và cố tình chây ỳ không trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng nên đã vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã ký kết đối với điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S.
[5]. Đối với bà Trần Thị Phương D là bị đơn và ông Nguyễn Hữu N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Như vậy, được xem là bà D, ông N từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
[7]. Từ những nhận định trên cho thấy nguyên đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Đăk Song buộc bà D và ông N phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả tính đến ngày xét xử là 18.261870đồng, (trong đó: Tiền gốc là 15.400.000đồng, tiền lãi tính đến ngày 28-6-2023 là 2.861.870 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 29-6-2023 theo hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ cần chấp nhận.
[8]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên buộc bà D và ông N phải nộp số tiền 913.093đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 275, Điều 280 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S đối với bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N.
Buộc bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N phải trả cho Điểm giao dịch Qũy cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế huyện Đăk S toàn bộ nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả tính đến ngày xét xử là 18.261.870đồng, (trong đó: Tiền gốc là 15.400.000đồng, tiền lãi tính đến ngày 28-6-2023 là 2.861.870 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 29-6-2023 theo hợp đồng tín dụng số HDTD01-015-06/2020/HĐTD ngày 11-6-2020 cho đến khi trả hết nợ.
2. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Phương D và ông Nguyễn Hữu N phải nộp 913.093đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - CC THADS huyện Đắk S; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đoàn Công Tài |