- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 27/2023/DS-ST Ngày: 28 – 02 - 2023 V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Nhàn
2. Ông Tô Ngọc Liêm
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Phƣớc Lợi - kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 400/2022/TLST-DS
ngày 05 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐST - DS ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đông Á (Dong A
Bank); địa chỉ: số 130 Phan Đăng Lưu, Phường 3, Quận Phú Nhuận, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh Tùng – Chức vụ:
Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hữu Thành: Ông Nguyễn
Hữu Thành – Chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP Đông Á; địa chỉ: số 06A
Nguyễn Hữu Cảnh, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (văn bản
ủy quyền ngày 26/12/2022) (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp TP, xã TM, huyện
CM, tỉnh AG (Có đơn xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp TP, xã TM, huyện CM,
tỉnh AG (Có đơn xét xử vắng mặt).
- Bà Lê Ngọc D, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp TP, xã TM, huyện CM, tỉnh
AG (Có đơn xét xử vắng mặt).
- Bà Trƣơng Thị Thu A, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp TL, xã TM, huyện
CM, tỉnh AG (Có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai đại diện theo ủy quyền Ngân hàng
Thương mại cổ phần Đông Á ông Nguyễn Hữu Thành trình bày, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Chợ Mới có ký hợp đồng tín dụng số 00932091/0135337201T19049 ngày 01/11/2019 và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số tiền vay 20.000.000đ do ông Trần Văn Toàn là người bảo lãnh, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 01/11/2019 đến ngày 01/11/2020), lãi suất 10%/năm, phương thức thanh toán 11 kỳ trả nợ gốc và lãi mỗi tháng 1.840.000đ, kỳ cuối trả 1.760.000đ. Sau khi vay, bà Nở có trả được số tiền vốn, lãi là 16.720.000đ, thì ngưng không trả vốn, lãi nên đã vi phạm ngh a vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Nở trả nợ, nhưng bà không thực hiện ngh a vụ trả nợ.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á yêu cầu bà Nở trả tiền vốn,
lãi tổng cộng 7.931.589đ. Trong đó: tiền vốn 5.023.588đ, lãi trong hạn 256.412đ, lãi quá hạn tính đến ngày 28/02/2023 là 2.651.589đ và tính lãi phát sinh từ ngày 28/02/2023 theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng số 00932091/0135337201T19049 ngày 01/11/2019 cho đến khi trả dứt nợ. Bà Nở là người ký kết vay vốn và nhận tiền của Ngân hàng TMCP Đông Á, ông Toàn là người bảo lãnh, trong trường hợp bà Nở không có khả năng thanh toán ông Toàn phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Nở.
Bị đơn bà Bùi Thị Nở trình bày: Bà Nở và ông Trần Văn Toàn là vợ
chồng, vào năm 01/11/2019 bà Nở có ký hợp đồng tín dụng số 00932091/0135337201T19049 vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á số tiền 20.000.000đ. Bà Nở trả tiền vốn, lãi cho Ngân hàng đến tháng 11/2020 thì ngưng không trả. Nay bà xác nhận còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á tổng số tiền vốn, lãi là 7.931.589đ, trong đó: vốn 5.023.588đ, lãi trong hạn 256.412đ, lãi quá hạn tính đến ngày 28/02/2023 là 2.651.589đ nay do sức khỏe yếu bà xin hẹn khi nào có khả năng sẽ trả cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan bà Lê Ngọc Diễm trình bày: Bà
Diễm là chi hội trưởng chi hội phụ nữ của ấp Tấn Phước, xã Tấn Mỹ. Do được ủy quyền của Chủ tịch hội phụ nữ xã Tấn Mỹ, bà Diễm được phụ trách thu tiền vốn vay, lãi của bà Nở cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á. Nay bà Diễm xác nhận bà Nở còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á tổng số
tiền vốn, lãi là 7.931.589đ, trong đó: vốn 5.023.588đ, lãi trong hạn 256.412đ, lãi
quá hạn tính đến ngày 28/02/2023 là 2.651.589đ và xin hẹn khi nào có khả năng
sẽ trả cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan bà Trương Thị Thu An trình bày:
Bà An là Chủ tịch hội phụ nữ xã Tấn Mỹ, vào tháng 10/2019 bà An có ký thỏa
thuận liên kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á để hỗ trợ các hộ dân
có nhu cầu vay vốn. Bà An xác định bà ký thỏa thuận liên kết với Ngân hàng sau
đó bà có ủy quyền lại cho chi hội trưởng hội phụ nữ của ấp thu tiền của bà Nở
nộp lại cho Ngân hàng. Nay bà Nở nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á
số tiền bao nhiêu bà không biết và không có ý kiến đối với số tiền vay của bà
Nở.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Hữu Thành v n giữ nguyên yêu cầu.
Bị đơn bà Bùi Thị Nở có đơn xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Trần Văn Toàn, bà Lê Ngọc
Diễm, bà Trương Thị Thu An có đơn xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Công nhận Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đông Á và bà Bùi Thị Nở.
- Buộc bà Bùi Thị Nở và ông Trần Văn Toàn có ngh a vụ trả cho Ngân
hàng Thương mại cổ phần Đông Á tổng số tiền vốn, lãi là 7.931.589đ, trong đó:
vốn 5.023.588đ, lãi trong hạn 256.412đ, lãi quá hạn tính đến ngày 28/02/2023 là
2.651.589đ. Trong trường hợp bà Nở không có khả năng thanh toán ông Trần
Văn Toàn phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Nở.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]- Về hình thức: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị Nở trả nợ
theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết; chủ thể tham gia giao dịch (bà
Bùi Thị Nở) mục đích bà Bùi Thị Nở vay tiền để bổ sung vốn kinh doanh nhưng
không đăng ký kinh doanh nên đây là tranh chấp về dân sự. Đồng thời, bị đơn bà
Bùi Thị Nở có nơi cư trú tại ấp TP, xã TM, huyện CM, tỉnh AG nên Tòa án nhân
dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
Bị đơn bà Bùi Thị Nở, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan ông Trần
Văn Toàn, bà Lê Ngọc Diễm, bà Trương Thị Thu An có đơn xét xử vắng mặt là phù hợp khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2]- Về nội dung:
Hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số
tiền vay 20.000.000đ do ông Trần Văn Toàn là người bảo lãnh được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á với bà Bùi Thị Nở và ông Trần Văn Toàn được xác lập trên cở sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[2.1]- Căn cứ theo hợp đồng nêu trên thì trong quá trình thực hiện hợp
đồng bà Nở đã không thực hiện ngh a vụ trả vốn, lãi đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm ngh a vụ của người vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Việc Ngân hàng khởi kiện bà Nở yêu cầu phải trả vốn, lãi còn nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp bà Nở không thanh toán nợ Ngân hàng thì ông Trần Văn Toàn phải có ngh a vụ trả nợ thay cho bà Nở là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc bà Bùi Thị Nở phải có ngh a vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn, lãi là 7.931.589đ, trong đó: vốn 5.023.588đ, lãi trong hạn 256.412đ, lãi quá hạn tính đến ngày 28/02/2023 là 2.651.589đ. Trong trường hợp bà Nở không có khả năng thanh toán ông Toàn phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Nở.
[2.2]- Về lãi suất từ sau thời điểm xét xử, tại phiên tòa hôm nay đại diện
ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu bên vay là bà Nở phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu trên là không trái với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Buộc bà Bùi Thị Nở phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 01/11/2019 cho đến khi trả hết nợ vốn cho Ngân hàng.
3 - Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Bùi Thị Nở phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Do bà là
người cao tuổi nên miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH
- Căn cứ: Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân
sự;
Điều 335, 336, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đông Á.
Buộc bà Bùi Thị Nở có ngh a vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần
Đông Á tiền vốn là 7.931.589đ (bảy triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn năm
trăm tám mươi chín) đồng, trong đó: vốn 5.023.588đ (năm triệu không trăm hai
mươi ba nghìn năm trăm tám mươi tám đồng), lãi trong hạn là 256.412đ (hai
trăm năm sáu nghìn bốn trăm mười hai) đồng, lãi quá hạn tính đến ngày
28/02/2023 là 2.651.589đ (hai triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm tám
mươi chín) đồng. Trong trường hợp bà Nở không có khả năng thanh toán ông
Toàn phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Nở.
Kể từ ngày 01/03/2023 bà Bùi Thị Nở phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi
suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký kết số 00932091/0135337201T19049 ngày
01/11/2019 cho đến khi trả hết nợ vốn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đông Á.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Nở là người cao tuổi nên được
miễn án phí.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đông Á là 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0012975 ngày
05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức |