- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HS-ST Ngày: 23-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu Trung tâm, Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Viễn,
2. Ông Lò Văn Thôn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thuỳ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Lầu Bá Khải – Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu Thành phần, nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã
- Những người tiến hành tố tụng: Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.
- Người tham gia tố tụng:
+ Bị cáo: Cà Văn M.
+ Cán bộ, Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Cầm Văn Khiêm, ông Lò Văn Quốc, ông Lường Văn Hoàng.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại điểm cầu Trung tâm thuộc Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 10/11/2022, đối với bị cáo:
Cà Văn M, tên gọi khác: Không, sinh năm 1973; nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cà Văn L và con bà: Cà Thị U (đều đã chết); vợ: Cà Thị Đ; có 03 người con: Con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan: Bà Cà Thị Đ, sinh năm 1973 (vợ bị cáo). Trú tại: Bản N, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 25’ ngày 17/8/2022, tổ công tác Công an xã N, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại khu vực bản Phiêng Đ, xã N, Sông Mã phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, người đàn ông khai nhận là Cà Văn M, sinh năm 1973 trú tại bản N, xã N, Sông Mã. Quá trình làm việc, tổ công tác có yêu cầu M tự giác giao nộp các đồ vật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, M đã tự lấy trong túi áo ngực bên trái đang mặc ra 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 30 viên nén màu hồng và chất bột liên kết màu trắng, (M khai nhận là Hồng phiến và Heroine) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade BKS 26C1- 123.62.
Ngày 18/8/2022 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng bóc, mở niêm phong cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả:
- 30 viên nén màu hồng thu giữ của M có tổng khối lượng là 2,92gam. Đã trích 02 viên có khối lượng 0,19gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M1, vật chứng còn lại 28 viên có khối lượng 2,73gam làm vật chứng lưu kho ký hiệu L1;
- Cân tách bì số chất bột liên kết màu trắng thu giữ của M có tổng khối lượng là 3,44gam. Trích 0,10gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M2, vật chứng còn lại 3,34gam ký hiệu L2.
Tại bản Kết luận giám định số 1423/KL-KTHS ngày 22/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,44gam; loại Heroine và 2,92gam; loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Cà Văn M sử dụng chất ma túy từ năm 2004. Khoảng 13 giờ 00’ ngày 17/8/2022, M một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade BKS 26C1-123.62 đi từ nhà đến bản T, xã C, Sông Mã với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến bản T, M đi vào một lán nương thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang ở trong lán. Qua nói chuyện, M hỏi mua được của người đàn ông dân tộc Mông này 30 viên Hồng phiến và 01 gói Heroine với giá 2.000.000VNĐ. Sau khi mua được ma túy, M cất giấu trong túi áo ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến khu vực bản Phiêng Đ, xã N, Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an xã N, huyện Sông Mã đang làm nhiệm vụ có yêu cầu M tự giác giao nộp các đồ vật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, M đã lấy gói ma túy từ trong túi áo ngực ra để giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Cáo trạng số: 166/CT-VKSSM ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Cà Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, đều có ý kiến xin lại chiếc xe mô tô. Sau khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
- Hồi 16 giờ 25 phút ngày 17/8/2022, Cà Văn M bị tổ công tác Công an xã N, huyện Sông Mã bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ được của Cà Văn M gồm 02 loại chất ma tuý; theo Kết luận giám định: Loại Methamphetamine có khối lượng 2,92gam; loại Heroine có khối lượng 3,44gam. Tổng khối lượng ma tuy thu giữ được của bị cáo là 6,36 gam. Mục đích tàng trữ để sử dụng.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người làm chứng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Cà Văn M phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, bị cáo Tàng trữ ma tuý với khối lượng đáng kể 6,36 gam. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng, nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo) và (Bố bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất), quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại địa phận bản T, xã C, Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade BKS 26C1- 123.62, tạm giữ của Cà Văn M được xác định là tài sản hợp pháp của gia đình bị cáo mua vào năm 2015 với giá 20.000.000VNĐ. Kết quả tra cứu chiếc xe mô tô không phải là vật chứng trong vụ án khác. Khi sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy, vợ của bị cáo là bà Cà Thị Điện không được biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã không đặt vấn đề xử lý đối với bà Điện là có căn cứ.
- Tại phiên toà, bà Cà Thị Đ có ý kiến: Chiếc xe mô tô là phương tiện duy nhất để phục vụ cuộc sống của gia đình. Khi bị cáo sử dụng đi phạm tội thì bà không biết và không liên quan. Nay đề nghị xin lại tài sản là chiếc xe mô tô để sử dụng. Do vậy, cần xem xét trả lại xe cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Cà Thị Đ.
6] Vật chứng của vụ án còn lại: 2,73gam Methamphetamine; 3,34gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
7] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Cà Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Cà Văn M 06 năm 06 tháng tù (sáu năm, sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng: 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín, chứa: 01 tui Nilon màu trắng chứa vật chứng ký hiệu L1 có khối lượng 2,73 gam Hồng phiến, 01 tui Nilon màu trắng chứa vật chứng ký hiệu L2 có khối lượng 3,34 gam Heroine, 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
- Trả lại cho bà Cà Thị Đ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, màu sơn trắng, BKS: 26C1-123.62; số khung: RLHJA3611EY040051; số máy: JA36E0124387; xe có 02 gương chiếu hậu, không có yếm, phần vỏ xe bị vỡ, xước nhiều chỗ; không kiểm tra máy móc bên trong, xe đã qua sử dụng và cũ.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 156 ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 23/11/2022.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |