vanban.org

Bản án 27/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn G phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Giao bị cáo Hoàng Văn G cho Ủy ban nhân dân xã Bì nh Trung , huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn G - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn G phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HS - ST
Ngày 10/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệ u Văn Thiế t

2. Bà Lục Thị Xinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậ u Xuân Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST - HS ngày 29/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST- HS ngày 27/7/2022 đối với bị cáo:

Hoàng Văn G ; sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộ c: Tày; tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn N và bà Ma Thị P; vợ : Lưu Thị H, con: Có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 19/5/2022 đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự tham gia tố tụ ng : Ông Lục Văn C – Là Phó Trưởng phòng N , tỉnh Bắc Kạn (Theo văn bản ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bà Ma Thị P, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Ông Nông Văn T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (Có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t).

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/7/2021, Trạm Kiểm lâm xã B thuộc Hạt kiểm lâm huyện C kiểm tra, phát hiện tại các lô 27, 30, khoảnh 6, tiểu khu 330 khu rừng thuộc thôn V, xã Bình T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn là khu vực rừng sản xuất, trạng thái là rừng hỗn giao tre nứa - gỗ tự nhiên núi đất (HG2) và rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rụng thường xanh phục hồi (TXP) bị phát phá trái pháp luật, qua đo đạc sơ bộ, diện tích bị phát phá trái phép là 6.386 m2. Qua xác minh ban đầu xác định người thực hiện hành vi phát phá là Hoàng Văn G, trú tại thôn V, xã Bình T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 30/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với các cơ quan chức năng, Chính quyền địa phương xã B và những người liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường đối với diện tích rừng bị phát phá trên. Qua khám nghiệm xác định diệ n tí ch rừ ng bị phá t phá trá i phé p tại các lô 27, 30, khoảnh 6, tiểu khu 330 khu rừng C thuộc thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Tổng diện tích rừng bị phát phá là 6.056 m2, số lâm sản bị thiệt hại qua kiểm đếm tại hiện trường là 52 gốc cây gỗ tự nhiên các loại từ nhóm V đến nhóm VIII và 1.752 cây vầu (Đếm theo phương pháp lập ô tiêu chuẩn) bị chặt hạ. Đối chiếu bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và bản đồ hiện trạng rừng năm 2020 trên địa bàn huyện Chợ Đồn ban hành theo Quyết định 278/QĐ-UBND ngày 8/02/2021 của UBND huyện Chợ Đồn thì diện tích rừng bị phát phá trên là rừng sản xuất, trạng thái là rừng hỗn giao tre nứa - gỗ tự nhiên núi đất (HG2) và rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rụng thường xanh phục hồi (TXP).

Cơ quan điều tra đã tiến hành định giá tài sản đối với số lượng lâm sản bị thiệt hại. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn kết luận: 1.752 cây vầu có giá trị tại thời điểm tháng 04/2021 là 4.219.200 đồng.

Quá trình điều tra, truy tố Hoàng Văn G khai nhận: Vào khoảng tháng 04 năm 2021, G một mình vào khu vực rừng C thuộc thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để phát diện tích rừng trên nhằm mục đích lấy đất canh tác (trồng rừng). G đã sử dụng dao để chặt hạ các loại cây vầu, giang, chuối, dây leo, cây bụi và cây rừng tự nhiên có nhiều kích thước và chủng loại khác nhau. Đối với các cây gỗ tự nhiên có kích thước lớn không thể dùng dao để chặt thì G thuê một người đàn ông người dân tộc Mông (Không rõ tên tuổi, địa chỉ do G chỉ gặp ngoài đường) dùng máy cưa xăng để chặt hạ với giá tiền 200.000 đồng. G phát trong khoảng 07 ngày thì xong. Quá trình phát phá G có cho ông Nông Văn T ngườ i cùng thôn vào khu vực rừng mà G phát phá để lấy khoảng 08 cây gỗ tự nhiên có đường kính từ 15 – 25 cm về làm củi (Trong đó có 04 cây gỗ đã chặt hạ từ trước, 04 cây gỗ là cây khô do chết đứng). Sau khi phát xong G đốt toàn bộ cây, dọn dẹp và trồng cây Mỡ trên toàn bộ diện tích trên. Diện tích rừng bị phát phá là rừng G được bố, mẹ đẻ là ông Hoàng Văn N và bà Ma Thị P chia cho (Chưa làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên), hiện thửa đất vẫn do ông N và bà P đứng tên đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009.

Quá trình điều tra, truy tố bị can Hoàng Văn G đều thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi phát phá, G đã tự nguyện trồng lại cây mỡ trên toàn bộ diện tích rừng mà G đã phát phá trái phép với mục đích khắc phục hậu quả.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, dài 48 cm, rộng 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 16 cm, đã qua sử dụng do Hoàng Văn G dùng để phát phá rừng, hiện đang được tạm giữ tại Kho vật chứng Thi hà nh á n dân sự huyện Chợ Đồn chờ xử lý.

Đối với số lâm sản (Các loại cây tự nhiên) bị chặt trên diện tích rừng mà Hoàng Văn G phát phá trái phép do đã bị đốt dọn để lấy mặt bằng canh tác nên quá trình điều tra không xác định và thu hồi được.

Phần dân sự: UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã cử ông Lục Văn C - Phó Trưởng phòng N đại diện tham gia tố tụng đã có đơn đề nghị yêu cầu Hoàng Văn G phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Nhà nước số tiền 4.219.200 đồng theo kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn.

Tại bản cáo trạng số 24/CT - VKSCĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn G về tội“Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn G phạm tội “Hủy hoại rừng”. Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điề u 38; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn G từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo . Thời gian thử thách là từ 24 tháng đến 36 tháng; Hình phạt bổ sung: Không á p dụ ng phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o ; về trách nhiệm dân sự: Buộ c bị cá o phả i bồ i thườ ng thiệ t hạ i về tài sản cho nguyên đơn dân sự vớ i số tiề n là 4.219.200 đồng; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủ y 01 (mộ t) con dao là công cụ dùng vào việc phát phá rừng trái phép; về án phí: Miễ n toà n bộ á n phí cho bị cá o.

Người đại diện của nguyên đơn dân sự ông Lụ c Văn C yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tà i sả n cho nguyên đơn dân sự số tiề n 4.219.200 đồng.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và nói

lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n đã đượ c

tranh tụng tại phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:

[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Chợ

Đồn, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t huyệ n Chợ Đồn, Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngư ời tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyế t đị nh củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng và người tiến hành tố tụng . Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hành tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do cầ n lấ y mặ t bằ ng đấ t để trồ ng cây nhằ m phá t triể n kinh tế gia đì nh nên trong tháng 4 năm 2021 bị cáo Hoàng Văn G đã có hành vi dùng dao và thuê người khác phát phá trái phép 6.056m2 rừ ng sản xuất, trạng thái là rừ ng hỗ n giao tre nứ a – gỗ tự nhiên nú i đấ t (HG2) và rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rụng thường xanh phục hồi (TXP) tại các Lô 27, 30, khoảnh 6, tiểu khu 330 thuộc khu rừng C, thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn gây thiệ t hạ i về lâm sả n gồ m 52 gố c cây gỗ tự nhiên cá c loạ i từ nhó m V đế n nhóm VIII v à 1752 cây vầ u có giá trị 4.219.000 đồ ng.

Hành vi phát phá rừng trái phép vớ i tổ ng diệ n tí ch 6.056m2 của bị cáo nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 24/CT – VKSCĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cá o là có căn cứ .

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến hoạt động quản lý bảo vệ rừ ng củ a Nhà nướ c, gây ả nh hưở ng đế n công tá c phá t triể n và bả o vệ rừng trên địa bàn nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để đảm bảo giáo dục bị cáo đồng thời để đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung trong cộng đồng dân cư trên địa bàn.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phát phá rừng trái phép bị cáo đã tự nguyện trồng cây mỡ trên toàn bộ diện tích rừng phát phá để khắc phục hậu quả xảy ra nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Ngoài ra bị cáo có ông nội Hoàng Văn Đ được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì và Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cá o đượ c hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điề u 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy đị nh tạ i khoản 4 Điề u 243 Bộ luậ t hì nh sự quy đị nh thì người phạm tội cò n có thể bị phạt tiền từ

20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cá o là người làm nông, có thu nhậ p thấ p , không có tà i sả n có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự : Trong quá trì nh điề u tra và tạ i phiên tò a người đại

diện của nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số lâm sả n bị thiệ t hại cho Ủy ban nhân dân huyện C vớ i tổ ng số tiề n 4.219.200 đồ ng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của đại diện nguyên đơn dân sự , tuy nhiên do hiệ n nay bị cá o gặ p khó khăn về kinh tế nên chưa thự c hiệ n bồ i thườ ng đượ c. Hộ i đồ ng xé t xử xét thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của đạ i diệ n nguyên đơn dân sự .

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, dài 48 cm, rộng 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài16 cm củ a Hoàng Văn G sử dụ ng để phát phá rừng trái phépxác địnhlà công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số lâm sản bị bị cáo phát phá trái phép, sau đó đốt dọn để lấy mặt bằng canh tác và số lâm sản do ông Nông Văn T đã lấ y là m củ i đun quá trình điều tra không xác định và không thu hồi được.

[9] Trong vụ án này còn có ông Hoàng Văn N và bà Ma Thị P là ngườ i cù ng đứ ng tên trong Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t đố i vớ i các lô đấ t mà bị cáo Hoàng Văn G phát phá trái phép , quá trình điều tra xác định ông N và bà P không liên quan đên việ c phá t phá rừ ng củ a bị cá o nên không có căn cứ để điề u tra xử lý .

Đối với ông Nông Văn T là người được bị cáo cho lấy cây gỗ tự nhiên trong khu rừ ng bị cá o khai thá c trá i phé p về là m củ i đun , quá trình điề u tra xá c đị nh ông T không liên quan đế n hà nh vi phá t phá rừ ng trá i phé p củ a bị cá o nên nên cơ quan điề u tra không xem xé t xử lý trá ch nhiệ m hì nh sự đố i vớ i ông Tướ ng là đú ng quy đị nh pháp luật.

Đối người đà n ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đượ c bị cáo Hoàng Văn G thuê phát rừ ng trá i phé p, quá trình điều tra không xác định đượ c danh tí nh, con ngườ i cụ thể nên không có căn cứ để điề u tra xử lý .

[10] Về án phí : Bị cáo Hoàng Văn G là người dân tộc thiểu số , sinh số ng tạ i vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đượ c miễ n toàn bộ án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn G phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn G 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn G cho Ủy ban nhân dân xã Bì nh Trung , huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộ c bị cáo Hoàng Văn G phải bồi thường thiệt hại về tà i sả n cho Nguyên đơn dân sự là UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn vớ i số tiề n 4.219.200 đồ ng. Việc thi hành án khoản tiền này được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, dài 48 cm, rộng 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài16 cm củ a Hoàng Văn G.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điể m đ khoả n 1 Điề u 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mứ c thu, miễ n, giảm, thu nộ p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễ n toà n bộ á n phí cho bị cá o Hoàng Văn G.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, ngườ i đạ i diệ n Nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắ ng mặ t tạ i phiên tò a có quyề n khá ng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c ngà y bả n á n đượ c niêm yế t.

Cỡ chữ