vanban.org

Bản án 27/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 19/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Lê Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Lê Duy B 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lê Duy B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Lê Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HS-ST
Ngày 19/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hoàn

Ông Nguyễn Văn Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 06/5/2022 đối với bị cáo:

Trần Lê Duy B, sinh ngày 25/4/1998, (tên gọi khác: Mao), tại tỉnh Tiền Giang. Trú tại: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh H, sinh năm 1971 và bà Lê Thị N, sinh năm 1971; Bị cáo là con một trong gia đình; chưa có vợ, con và chưa có hoạt động gì về chính trị - xã hội; Tiền sự: Không.

Tiền án: 02 lần:

Lần 01: Ngày 07/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xử bị cáo 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2019;

Lần 02: Ngày 29/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xử bị cáo 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/7/2021;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 15/01/2022 đến ngày 18/01/2022, chuyển tạm giam ngày 18/01/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cai Lậy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị N, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Lê Duy B là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 13/01/2022, B sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO lên mạng Facebook liên lạc với tài khoản tên “tài khoản bị khóa” không xác định được họ tên địa chỉ, hỏi mua 01 bịch ma túy loại ma túy đá với giá 300.000 đồng, hẹn giao tại góc ngã tư thuộc tuyến tránh thị xã Cai Lậy. Đến 14 giờ cùng ngày, B đến ngã tư gặp người thanh niên đi xe mô tô hiệu SIRIUS màu đỏ, đeo khẩu trang không rõ họ tên địa chỉ, B đưa 300.000 đồng thì người thanh niên chỉ B đi đến lấy ma túy bên hông chai nước hiệu Sting để cách đó khoảng 5 bước chân, B lấy bịch ma túy cất vào túi quần phía sau bên phải, đi về đến nhà tại ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Long, huyện Cai Lậy thì dùng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng gói bịch ma túy cất giấu tại lộ dal trước nhà. Đến 20 giờ ngày 14/01/2022 B lấy bịch ma túy cất giấu trong túi quần, sau đó điện thoại cho Mai Văn L, sinh năm 1998, ở khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy, nhờ L chở đi công việc, khi L điều khiển xe mô tô biển số 63S7-8415 màu đen chở B đến đoạn ấp Mỹ Thạnh A, xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang thì Công an huyện Cai Lậy bắt quả tang B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 bịch ny lon màu trắng hàn kín xung quanh bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong trong một bì thư màu trắng ký hiệu gói số 1, kích thước 2,2cm x 2,4cm; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 63S7-8415 màu đen; 01 máy tính bảng hiệu Ipad.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO B sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy, B đã bán chiếc điện thoại này cho người bạn không biết rõ họ tên địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Kết luận giám định số 08/KLGĐ-PC09 ngày 17/01/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói ny lon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3650 gam, loại Methamphetamine.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 63S7-8415 màu đen do Ngô Văn Chờ đứng tên chủ sở hữu, việc Trần Lê Duy B nhờ Mai Văn L dùng xe mô tô chở B đi công việc, L và ông C không biết B tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe cho ông C là có căn cứ và đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra, Trần Lê Duy B có thái độ thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trần Lê Duy B có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản, đã tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSHCL ngày 22/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố Trần Lê Duy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Lê Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù giam.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 08 ngày 17/01/2022 (mẫu sau giám định), tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.000 đồng. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bà Lê Thị N một máy bảng Ipad.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 14/01/2022, tại ấp Mỹ Thạnh A, xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Trần Lê Duy B có hành vi tàng trữ 01 bịch ma túy được cất vào tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bỏ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc trên người, có khối lượng là 0,3650 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy bắt quả tang, bị cáo có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản, đã tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố Trần Lê Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Lê Duy B tàng trữ trái phép chất ma túy trọng lượng 0,3650 gam, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, bởi lẽ tất cả các loại ma túy đều là chất gây nghiện, ảnh hưởng rất nghiêm trọng về thể chất và tinh thần cho người sử dụng, ma túy cũng là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự, nên Nhà nước nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép ma túy. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO, lên mạng Facebook liên lạc với tài khoản tên “tài khoản bị khóa” không xác định được họ tên địa chỉ, hỏi mua 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng. Đến 20 giờ ngày 14/01/2022, B đi đến khu vực ấp Mỹ Thạnh A, xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang thì bị Công an huyện Cai Lậy bắt quả tang đang cất giấu ma túy trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người, có khối lượng là 0,3650 gam, loại Methamphetamine. Mặc khác, bị cáo có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành án xong đã tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông ngoại của bị cáo là liệt sĩ được Nhà nước cấp giấy chứng nhận đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 63S7-8415 màu đen do Ngô Văn Chờ đứng tên chủ sở hữu, việc Trần Lê Duy B nhờ Mai Văn L dùng xe mô tô chở B đi công việc, L và ông C không biết B tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe cho ông C là đúng pháp luật. Đối với 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 08 (mẫu sau giám định) bên trong chứa ma túy là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. Bị cáo sử dụng tờ tiền 1.000 đồng để gói bịch ma túy cất giấu nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với máy tính bảng hiệu Ipad đây là tài sản của bà Lê Thị N bị cáo mượn sử dụng, không liên quan đến việc tàng trữ ma túy nên trả lại cho bà Nhi.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Lê Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Lê Duy B 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2022.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 08 ngày 17/01/2022 (mẫu sau giám định).

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.000 đồng.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bà Lê Thị N một máy bảng Ipad.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 bị cáo Trần Lê Duy B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ