vanban.org

Bản án 27/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 14/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Đức H phạm tội "Hủy hoại rừng".

Xử phạt bị cáo Triệu Đức H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Đức H cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Đức H - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Đức H phạm tội "Hủy hoại rừng".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HS-ST
Ngày: 14/11/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bế Thị Thu Trang

Bà Chu Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Ma Thế Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2022/TLST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Triệu Đức H (Tên gọi khác: không), sinh ngày 29/9/1970, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 3/10; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Thành Q và bà Triệu Thị T (Đều đã chết); Vợ: Triệu Thị Ph; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại tại địa phương có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Thôn T, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Mã Thị Thương O - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Theo văn bản Ủy quyền số: 2311/UBND-VP ngày 06 tháng 7 năm 2022). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Triệu Thị B, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Thôn Kh, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Vắng mặt.

- Bà Triệu Thị Ph, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Thôn Kh, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Có mặt.

* Những người làm chứng:

1. Chị Thào Thị Ch, sinh năm 1986.

2. Anh Giàng A N, sinh năm 1988.

3. Chị Dương Thị Đ, sinh năm 1992.

4. Anh Giàng A Ch, sinh năm 1988.

5. Chị Vàng Thị M, sinh năm 1987.

Tất cả đều cư trú tại: Thôn Đ, xã Kh, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Tất cả đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2021 Triệu Đức H đi từ nhà ở thôn Kh, xã Th, huyện B đến thị trấn Ch, huyện B để mua vòng bi máy xay sát. Sau khi mua được vòng bi, H đi bộ về đến khu vực bến xe khách huyện B thuộc tiểu khu 1, thị trấn Ch thì Thào Thị Ch, Dương Thị Đ cùng trú tại thôn Đ, xã Kh, huyện B dừng xe hỏi “có việc gì thuê họ làm không”, H nói “có một đám rừng đang cần phát”, sau đó H dẫn Ch, Đ lên khu rừng của gia đình, xem xong hai bên thỏa thuận thống nhất công phát là 7.000.000 đồng và Thào Thị Ch về nhà tìm thêm người để cùng làm, mục đích Triệu Đức H thuê người phát phá rừng là để trồng cây mỡ. Ngày 20/12/2021 Thào Thị Ch, sinh năm 1986; Dương Thị Đ, sinh năm 1992; Giàng A N, sinh năm 1988; Giàng A Ch, sinh năm 1988; Vàng Thị M, sinh năm 1987 cùng trú tại thôn Đ, xã Kh, huyện B và Thào Văn D, sinh năm 1984 trú tại thôn Đ, xã N, huyện B đến khu rừng của Triệu Đức H đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 01736 cho vợ chồng ông Triệu Đức H và bà Triệu Thị Ph phát phá, trong thời gian 03 ngày từ ngày 20 đến ngày 22/12/2021 những người được thuê phát phá xong diện tích như đã thỏa thuận, được ông H trả công là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Sau khi phát hiện vụ việc Triệu Đức H phát phá rừng trái phép, Hạt kiểm lâm huyện B đã lập hồ sơ, xác định vụ việc vượt quá thẩm quyền nên đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 01/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với các Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định khu rừng Triệu Đức H thuê người phát phá là tại lô 101, khoảnh 5, tiểu khu 66 khu rừng Th thuộc thôn Kh, xã Th, huyện B. Loại rừng bị phát phá là rừng sản xuất – rừng tự nhiên hỗn giao gỗ và tre; diện tích khu rừng bị hủy hoại là 5.013m2; tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là 11,915m3 gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII và 1557 cây Mậy Hốc.

Tại kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 09/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 11,915m3 gỗ thông thường nhóm V đến nhóm VIII có giá trị 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng); xác định giá trị bằng tiền của 1557 cây Mậy Hốc bằng 0 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Triệu Đức H đã khai rõ hành vi phạm tội của bản thân về việc vào tháng 12/2021, H đã tự ý thuê người phát phá khu rừng của gia đình ở Thẳm Sưa thuộc thôn Kh, xã Th, huyện B, việc thuê người phát phá rừng chỉ một mình bị cáo thực hiện, bị cáo cũng không xin phép và không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Với hành vi trên, bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSBB ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Triệu Đức H về tội: “Hủy hoại rừng”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2)”

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Triệu Đức H phạm tội “Hủy hoại rừng”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 -15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng.

- Về Hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Triệu Đức H phải bồi thường với số tiền là 16.681.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm tám mốt nghìn đồng) cho nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật, cụ thể:

+ Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách nhà nước 11,915m3 gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII và 1557 cây Mậy Hốc. Giao cho Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể quản lý và xử lý theo quy định.

+ Trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH01736 đối với thửa đất số 1139 mang tên Triệu Đức H, Triệu Thị Ph cùng trú tại thôn Kh, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn cho bị cáo.

+ Tạm giữ số tiền 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai số 0001018 ngày 26/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), những người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường; biên bản định giá tài sản và Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Bể, lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Tháng 12 năm 2021 Triệu Đức H đã có hành vi tự ý thuê người phát phá khu rừng Thẳm Sưa ở thôn Kh, xã Th, huyện B thuộc lô 101, khoảnh 5, tiểu khu 66 trong khi chưa được cơ quan chức năng cho phép, khu rừng này đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Triệu Đức H và bà Triệu Thị Ph. Diện tích rừng bị hủy hoại là 5.013m2; tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là 11,915m3 gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII và 1557 cây Mậy Hốc có giá trị 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng), diện tích rừng bị hủy hoại là rừng sản xuất – rừng tự nhiên hỗn giao gỗ và tre.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Hủy hoại rừng”. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến môi trường rừng là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Bị cáo nhận thức được hành vi chặt phá rừng là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đã căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự để truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cần xử lý bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo" về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện trồng cây mỡ lên toàn bộ diện tích đất rừng đã bị phá, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự nguyện khắc phục hậu quả”, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền là 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai số 0001018 ngày 26/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để bồi thường thiệt hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bà nội là bà Triệu Thị V được Nhà nước tặng bằng có công với nước, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức còn hạn chế, mục đích bị cáo phá rừng chỉ để trồng cây có kinh tế cao phục vụ cho cuộc sống mưu sinh của gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, như vậy cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện được tính nhân đạo và lượng khoan hồng của pháp luật. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, sống bằng nghề trồng trọt không có việc làm ổn định để tạo ra nguồn thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa: Người đại diện cho nguyên đơn dân sự đề nghị bị cáo Triệu Đức H phải bồi thường với số tiền là 16.681.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm tám mốt nghìn đồng) và bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại với số tiền như đề nghị của người đại diện nguyên đơn dân sự, do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện cho nguyên đơn dân sự như sau: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự số tiền là 16.681.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm tám mốt nghìn đồng).

Về vật chứng:

+ Đối với 11,915m3 gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII và 1557 cây Mậy Hốc. Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra giao cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B quản lý và xử lý theo quy định. Số gỗ này cần tịch thu hóa giá để sung vào ngân sách Nhà nước, xác định Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể là cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước đối với số gỗ trên nên giao cho Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.

+ Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH01736 đối với thửa đất số 1139 mang tên Triệu Đức H, Triệu Thị Ph cùng trú tại thôn Kh, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo Triệu Đức H và bà Triệu Thị Ph.

+ Tạm giữ số tiền 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể để đảm bảo thi hành án.

Về các vấn đề khác: Đối với Thào Thị C, Dương Thị Đ, Giàng A N, Giàng A Ch, Vàng Thị M và Thào Văn D là người được bị cáo Triệu Đức H nhờ chặt hạ các cây gỗ tại diện tích rừng đã bị chặt phá. Tuy nhiên, khi bị cáo Triệu Đức H nhờ những người trên chặt phá rừng bị cáo Triệu Đức H đã không nói là đã xin phép cơ quan có thẩm quyền về việc khai thác rừng, nên những người trên không biết về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo. Do đó, những người trên không có lỗi nên không xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Triệu Đức H phạm tội "Hủy hoại rừng".

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Triệu Đức H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Triệu Đức H cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện nguyên đơn dân sự: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn số tiền là 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu hóa giá để sung quỹ nhà nước11,915m3 gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII và 1557 cây Mậy Hốc. Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/3/2022 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Ủy ban nhân dân xã Thượng Giáo, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

+ Trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH01736 đối với thửa đất số 1139 mang tên Triệu Đức H, Triệu Thị Ph cùng trú tại thôn Kh, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn cho bị cáo Triệu Đức H và bà Triệu Thị Ph .

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/10/2022 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

+ Tạm giữ số tiền 16.681.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai số 0001018 ngày 26/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136/ Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ