vanban.org

Bản án 27/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 07/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Hà Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Công T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hà Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HS-PT
Ngày 07 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phúc An Hoành.

Các Thẩm phán: Ông Hà Văn Chương và ông Ma Hồng Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2022/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Hà Công T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hà Công T, sinh ngày 15/3/1972 tại huyện C, tỉnh T;

Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông Hà Đình N và bà Trần Thị D (đều đã chết); vợ Vũ Thị Q và có 02 con.

* Tiền án: Không;

* Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 159/QĐ-XPHC ngày 08/10/2021 của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt ngày 11/10/2021).

* Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 93/QĐ-XPHC, ngày 27/02/2020 của Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt ngày 28/02/2020);

Năm 2005 bị Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo tại ngoại, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thanh Thủy, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Công T có một tiền sự về hành vi đánh bạc và đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 159/QĐ-XPHC, ngày 08/10/2021 của Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang phạt tiền 1.500.000 đồng (bị cáo đã nộp phạt ngày 11/10/2021).

Khoảng 17 giờ 00 ngày 23/12/2021, Hà Công T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA RM 1133 gắn sim số thuê bao 0334.462.19…, soạn 02 tin nhắn gửi đến số thuê bao 0384.476.92… của bà Phan Thị L, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã H, huyện C (là người bán số lô, số đề trái phép) để mua số lô, đề trái phép, bao gồm: Lô điểm 09 = 50 điểm; 90, 91 mỗi cặp số = 25 điểm; 67, 76, 15 mỗi cặp số = 15 điểm với giá 23.000đ/01 điểm; Lô xiên ba 09, 90, 91 = 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); Số đề 52 = 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); Các số đề 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 mỗi số = 10.000đ (Mười nghìn đồng). Sau khi nhận được tin nhắn L đồng ý bán các số lô, số đề trái phép nêu trên cho T với tổng số tiền là 3.585.000đ (Ba triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Ngoài ra trong ngày 23/12/2021 L còn bán số lô, đề trái phép cho một số đối tượng khác. Các số lô, số đề được L ghi chép vào 01 quyển sổ kẻ ngang có bìa màu xanh nhãn hiệu “Hải Tiến”. Do quen biết nhau nên bị cáo, các đối tượng đều nợ tiền ghi số lô, số đề trái phép với L. Việc trả thưởng cho người mua số lô, đề trái phép được dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 30 phút cùng ngày. Đối với số lô và lô xiên nếu các cặp số đã mua trùng với 02 số cuối của các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy thì người mua trúng trưởng với tỷ lệ 1 x 40. Riêng số đề chỉ trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng với tỷ lệ 1 x 70.

Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, khi L đang tổng hợp các số lô, số đề trái phép bán được trong ngày để gọi điện, nhắn tin chuyển cho một người đàn ông tên M nhà ở thôn P, xã T, huyện C, tỉnh T nhằm hưởng phần trăm hoa hồng thì có tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa kiểm tra, phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính. Tổng số tiền Phan Thị L bán lô đề trái phép trong ngày 23/12/2021 là 4.315.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hà Công T phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Công T 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022, bị cáo Hà Công T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Hà Công T 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình 01 văn bản xác nhận của Công an xã N, huyện C, tỉnh T (kèm theo biên bản bắt người phạm tội quả tang, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) xác nhận trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo đã có công giúp Công an xã N, huyện C bắt giữ đối tượng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo cung cấp biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; 01 giấy xác nhận của UBND xã xác nhận bị cáo thuộc diện hộ nghèo và 01 biên lai thu tiền nộp số tiền truy thu sung vào ngân sách nhà nước 3.585.000 đồng. Do đó cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS và có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của HĐTPTAND tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Công T, sửa một phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm theo hướng: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Công T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách theo quy định. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Hà Công T đã nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002526 ngày 10/5/2022 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và số tiền truy thu sung vào ngân sách nhà nước 3.585.000 đồng theo biên lai số 0001596 ngày 07/7/2022 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo Hà Công T không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Đánh bạc và xử phạt mức án là phù hợp. Nhất trí như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương là phù hợp quy định của pháp luật.

Khi được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ ngày 23/12/2021, Hà Công T (có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc) có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề với tổng số tiền là 3.585.000đ (Ba triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng), đủ cơ sở xác định bị cáo Hà Công T đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý trật tự công cộng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm, áp dụng tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo xuất trình 01 văn bản xác nhận của Công an xã N, huyện C, tỉnh T (kèm theo biên bản bắt người phạm tội quả tang, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) xác nhận trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo đã có công giúp Công an xã N bắt giữ đối tượng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo cung cấp biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, phiếu chiếu/chụp X-quang, phiếu kết quả siêu âm của cơ sở y tế xác định bị thoái hóa khớp háng 2 bên và biên lai thu tiền nộp số tiền truy thu sung vào ngân sách nhà nước 3.585.000 đồng. Đây là các tình tiết mới, do đó cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo bị xét xử phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo không lớn, do đó thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm chung theo tinh thần của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định cho phù hợp pháp luật.

Đối với số tiền bị cáo Hà Công T bị truy thu vào ngân sách nhà 3.585.000 đồng tại bản án sơ thẩm, bị cáo đã nộp xong, do đó cần ghi nhận bị cáo đã nộp đủ tiền truy thu ngân sách nhà nước.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Công T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Công T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 07/7/2022.

Giao bị cáo Hà Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới theo quy định. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Bị cáo Hà Công T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Hà Công T đã nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002526 ngày 10/5/2022 và tiền truy thu vào ngân sách Nhà nước là 3.585.000 đồng theo biên lai số 0001596 ngày 07/7/2022 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 07/7/2022.

Cỡ chữ