vanban.org

Bản án 27/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T. Bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Thế H

Về con chung: Giao con chung là Phạm Nguyên Hải Yến, sinh ngày 13/3/2016, cho bà Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà T tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Phạm Thế H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng T - Phạm Thế H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T. Bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Thế H
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST
Ngày 04-5-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Việt Trường.

2. Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 442/2021/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2022/QĐST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ 3, khu phố , phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Thế H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 3, khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Phạm Thế H quen nhau và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, bà T, ông H có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giấy chứng nhận kết hôn số 108/2013, quyển số 01/2013 ngày 03 tháng 12 năm 2013.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề trong cuộc sống, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Bà T và ông H đã tự ý chấm dứt cuộc sống chung từ năm 2016 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Phạm Thế H có 01 con chung là Phạm Nguyên Hải Y, sinh ngày 13/3/2016. Bà T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà T tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vẫn không đến Tòa án làm việc mà không có lý do, vì thế Tòa án không thể tổ chức hòa giải để thuyết phục động viên các bên giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm để trở về đoàn tụ với nhau. Sau nhiều lần vắng mặt, đại diện Tòa án cũng đã phối hợp với đại diện địa phương đến nơi cư trú của ông H để làm rõ tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông H và tìm hiểu nguyên nhân vắng mặt của ông H nhưng không gặp được ông H.

Qua xác minh tại địa phương: Uỷ ban nhân dân phường cung cấp: Ông H và bà T có địa chỉ tại tổ 3, khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà T đã dắt con gái về Khánh Hoà, hiện bà T không còn tại địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Đề Hùng Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông H.

Về con chung: Giao con chung là Phạm Nguyên Hải Y, sinh ngày 13/3/2016 cho bà T nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Buộc bà T phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Hùng theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1 Về quan hệ hôn nhân:

Qua thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Phạm Thế H tiến tới hôn nhân chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Bà T, ông H đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giấy chứng nhận kết hôn số 108/2013, quyển số 01/2013 ngày 03 tháng 12 năm 2013. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng, bà T xác định không còn tình cảm với ông H nữa. Cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do hai vợ chồng không còn tình cảm, tôn trọng đối với nhau, bất đồng về tính cách, quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên cãi vã và xô xát nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Bà T, ông H đã tự sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để vợ chồng bà T, ông H đoàn tụ nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ ông H không có thiện chí hòa giải và không mong muốn tiếp tục chung sống với bà T nữa. Riêng bà T vẫn cương quyết ly hôn với ông H. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà T, ông H đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà T với ông H.

2.2 Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T, ông H có 01 con chung là Phạm Nguyên Hải Y, sinh ngày 13/3/2016. Bà T có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xét từ khi vợ chồng bà T ông H ly thân đến nay cháu Y ở với bà T. Vì vậy xét cần tiếp tục giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là có căn cứ.

Bà T tự nguyện không yêu cầu ông Hùng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2.4 Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Hùng quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T. Bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Thế H

2.Về con chung: Giao con chung là Phạm Nguyên Hải Yến, sinh ngày 13/3/2016, cho bà Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà T tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Phạm Thế H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị Hồng T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005706 ngày 24/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy bà T đã nộp xong án phí .

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

Cỡ chữ