- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 4 Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228, Điều 266 Bộ luật
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Hòa
2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng
Hùng - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Trương
Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan
Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
322/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh
chấp nuôi con ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-
HNGĐ ngày 01/4/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 54/2022/QĐST-HNGĐ
ngày 18/4/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Vi Hải Y, sinh năm 1991 (có mặt)
Nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình
Thuận.
2. Bị đơn: Ông Thái Hoàng H, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình
Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
bà Trần Vi Hải Y trình bày:
Bà Trần Vi Hải Y và ông Thái Hoàng H đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại
UBND phường Phú Tài. Trong thời gian chung sống bà Y và ông H cảm thấy
không hợp nhau, thường xuyên cãi vã và bất đồng quan điểm với nhau dẫn đến
sống ly thân. Nay bà Y làm đơn xin ly hôn để được giải thoát và trả tự do cho
nhau.
Về con: có 1 con là Thái Tuệ L , sinh ngày 08/02/2020. Bà Y yêu cầu
nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn ông Thái Hoàng H trình bày: tại bản tự khai ngày 14/2/2022,
ông Thái Hoàng H không đồng ý ly hôn vì vợ chồng có thể hàn gắn. Về con là Thái Tuệ L, sinh ngày 08/02/2020 ông H không có ý kiến. Về tài sản không yêu cầu giải quyết. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 09/3/2022, ông H đồng ý ly hôn vì vợ chồng không thể hàn gắn và xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến: Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án từ khi thụ lý đến khi xét xử thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Vi Hải Y về việc ly hôn ông Thái Hoàng H. Về con: giao con cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét. Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn ông Thái Hoàng H có nơi cư
trú tại khu phố 14, phường Phú Thủy, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện về việc giải quyết ly hôn của bà Y thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Thái Hoàng H vắng mặt và có đơn xin xét
xử vắng mặt, do đó, hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: bà Trần Vi Hải Y và
ông Thái Hoàng H đăng kí kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 91, ngày 09/8/2019 của Ủy ban nhân dân phường Phú Tài, nên quan hệ hôn nhân của bà Y, ông H là hợp pháp. Theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau. Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn thể hiện vợ chồng bà Y, ông H đã có thời gian không chung sống bên nhau, mâu thuẫn vợ chồng là có thật và thực tế đời sống hôn nhân của bà Y, ông H không còn hạnh phúc. HĐXX nhận thấy tình trạng hôn nhân của các đương sự thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi và ổn định cuộc sống cho các bên, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Y. Bà Y được ly hôn ông H.
Về con là Thái Tuệ L, sinh ngày 08/02/2020 (giới tính:nữ). HĐXX
thấy rằng bà Y hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, ông H không có ý kiến
gì việc nuôi con nên HĐXX giao con cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Y
không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xét.
Về tài sản và nợ: Bà Y, ông H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX
không giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trần Vi Hải Y
phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- khoản 01 Điều 28, khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
4 Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228, Điều 266 Bộ luật
tố tụng Dân sự;
- Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân
và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
*Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con của bà
Trần Vi Hải Y như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Vi Hải Y ly hôn ông Thái Hoàng H.
- Về con: giao con Thái Tuệ L, sinh ngày 08/02/2020 (giới tính: nữ) cho
bà Trần Vi Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi
con.
Bà Trần Vi Hải Y và ông Thái Hoàng H có quyền, nghĩa vụ trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung sau khi ly hôn. Bà Trần Vi Hải
Y không được ngăn cản ông Thái Hoàng H trong việc thăm nom, chăm sóc và
giáo dục các con chung.
Về tài sản chung, nợ : các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Vi Hải Y phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm về việc giải quyết ly hôn. Bà Y đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí do
Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Phan Thiết thu theo biên lai số
0004184 ngày 22/12/2021 được chuyển sang án phí.
Quyền kháng cáo bản án của các đương sự là 15 ngày, đối với bà Trần
Vi Hải Y tính từ ngày tuyên án (29/4/2022), đối với ông Thái Hoàng H tính từ này nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Tp. Phan Thiết; - Chi cục THADS Tp.Phan Thiết; - UBND phường Phú Tài; - Cổng TTĐT TAND tối cao; - Lưu hồ sơ, văn phòng. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Phương Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |