- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN NUÔI CON"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST Ngày 13/6/2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Nguyên Kim.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Thanh Phương;
- Ông: Thông Minh Tấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhi – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện N – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2021/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đào Thị Kim N, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Đặng Văn K, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt – Có đơn ngày 27/5/2022 xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Đào Thị Kim N trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Bà Đào Thị Kim N và ông Đặng Văn K yêu thương nhau và tự nguyện chung sống với nhau từ đầu năm 2015 (trước khi đăng ký kết hôn), sau đó đăng ký kết hôn vào ngày vào ngày 07/10/2015 tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Bình Thuận.
Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, sau đó vợ chồng không hợp nhau; thời gian từ đầu năm 2016 đến nay hai người sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được, đã ly thân từ tháng 6 năm 2021 đến nay. Bà N đem con nhỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn S, xã C, huyện N, tỉnh Bình Thuận sinh sống. Nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Bà Đào Thị Kim N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bình Thuận giải quyết cho bà ly hôn với ông Đặng Văn K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên H, sinh ngày 20/07/2015 hiện đang ở với bà Đào Thị Kim N. Nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Đào Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đặng Văn K không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đặng Văn K trình bày:
Vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được; ông Đặng Văn K đồng ý ly hôn với bà Đào Thị Kim N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên H, sinh ngày 20/07/2015 hiện đang ở với bà Đào Thị Kim N, ông Đặng Văn K đồng ý để bà Đào Thị Kim N tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, ông Đặng Văn K không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Đặng Văn K yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy mâu thuẫn giữa bà Đào Thị Kim N và ông Đặng Văn K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị cho ly hôn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Con chung: H, sinh ngày 20/07/2015 hiện đang ở với bà Đào Thị Kim N nên giao cho bà Đào Thị Kim N nuôi dưỡng chăm sóc là phù hợp.
Các phần khác không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:
- Đơn khởi kiện của bà Đào Thị Kim N được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bà Đào Thị Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đặng Văn K. Người bị kiện có địa chỉ tại huyện N, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Đặng Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã nhận thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông Đặng Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đặng Văn K là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về hôn nhân: Bà Đào Thị Kim N với ông Đặng Văn K sống chung có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Bình Thuận vào ngày 07 tháng 10 năm 2015. Bà Đào Thị Kim N trình bày do mâu thuẫn vợ chồng bà Đào Thị Kim N và ông Đặng Văn K không còn sống chung với nhau nữa, mạnh ai nấy sống, nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Đào Thị Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đặng Văn K; ông Đặng Văn K đồng ý ly hôn với bà Đào Thị Kim N. Cả hai ông, bà không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
[4] Xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Đào Thị Kim N với ông Đặng Văn K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Kim N.
[5] Con chung: 01 (một) con chung tên H, sinh ngày 20/07/2015 hiện đang ở với bà Đào Thị Kim N, ông Kỳ đồng ý giao con cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX xét thấy giao cho bà N nuôi dưỡng chăm sóc con là phù hợp, bà N không yêu cầu ông Kỳ cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà Đào Thị Kim N phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứvào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con của bà Đào Thị Kim N, cụ thể như sau:
1. Về hôn nhân: Bà Đào Thị Kim N được ly hôn với ông Đặng Văn K.
2. Về con chung: Bà Đào Thị Kim N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 01 (Một) con chung tên H, sinh ngày 20/07/2015 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Đặng Văn K không cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể được thực hiện theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung: Bà Đào Thị Kim N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Bà Đào Thị Kim N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí:
Bà Đào Thị Kim N phải chịu tiền án phí sơ thẩm ly hôn là là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000324 ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 13/6/2022). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| -VKSND huyện N; -Chi cục T.H.A.D.S huyện N; -UBND xã Tân Thuận -Các đương sự; -Lưu: hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Nguyên Kim |