- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI ------------ Bản án số: 27/2022/DS-ST Ngày: 30/9/2022 V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thúy
2. Bà Phạm Thị Thoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Sáng - Thư ký TAND huyện Chư Păh, Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2022/TLST-DS, ngày 21 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐXXST - DS ngày 19 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Địa chỉ: 02 Láng Hạ, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Đ - Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai (theo quyết định ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019).
- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Ngô Đình N - Trưởng phòng KH-KD Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chư Păh Đông Gia Lai (giấy ủy quyền số 99C/NHNoCP.ĐGL-GUQ ngày 30/3/2022). Địa chỉ: Số ... H, thị trấn P, huyện Chư Păh, Gia Lai. Có mặt
2. Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1967 và ông Trần Xuân S. Cùng địa chỉ: Thôn .., xã N, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Ngân hàng) ông Ngô Đình N trình bày:
Ngày 30/5/2018, bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S có ký với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai Hợp đồng tín dụng số: 1082/HĐTD vay số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 36 tháng, kể từ ngày 30/5/2018, phương pháp trả lãi tiền vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân, mục đích vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân.
Để đảm bảo cho khoản vay nói trên, bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 107, tờ bản đồ 9, diện tích 7.872m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: Thôn ..., xã N, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N785884 ngày 03/12/1998 đứng tên ông (bà) Trần Thị T, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 463/HĐTC ngày 30/5/2018.
- Tại báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5011LDS202080487 ngày 04/02/2020: Số tiền vay 40.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 04/02/2021, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 03 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh và chăn nuôi heo thịt. Bà T, ông S đã trả tiền lãi đến ngày 04/8/2020. Từ ngày 05/02/2021, khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc và làm việc đòi nợ nhưng bàTuyết, ông S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bàT, ông S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 05/8/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2022 là 11.975.425 đồng (trong đó lãi trong hạn là 2.117.260 đồng, lãi quá hạn là 9.858.165 đồng), tổng cộng là 51.975.425 đồng. Bà T, ông S phải tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng.
- Tại báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5011LDS202000942 ngày 09/3/2020: Số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 09/3/2021, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 03 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh. BàT, ông S đã trả tiền lãi đến ngày 25/6/2020. Từ ngày 10/3/2021, khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc và làm việc đòi nợ nhưng bàT, ông S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bàT, ông S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 26/6/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2022 là 9.184.377 đồng (trong đó lãi trong hạn là 2.217.945 đồng, lãi quá hạn là 6.966.432 đồng), tổng cộng là 39.184.377 đồng. Bà T, ông S phải tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng.
Trường hợp bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S không thực hiện thanh toán các khoản nợ nói trên cho Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản tự khai, biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ bị đơn bà Trần Thị T trình bày: Năm 2020 bà và chồng là ông Trần Xuân S có ký hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền nợ gốc là 70.000.000 đồng, thời hạn món 40.000.000 đồng là ngày 02/02/2021 và món 30.000.000 đồng là ngày 09/3/2021. Khi đến hạn trả nợ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên vợ chồng bà không đủ điều kiện để trả tiền lãi và tiền gốc. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả 70.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi là 16.766.438 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ, nhưng vì điều kiện khó khăn nên bà xin trả số tiền nợ này chậm nhất là ngày 30/12/2022. Trong trường hợp bà không trả được nợ, bà đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Ngoài ra, bà T không có ý kiến gì thêm.
Đối với ông Trần Xuân S, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông S không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của ông S đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền gốc và lãi của hai khoản vay là 91.159.802 đồng, trong đó tiền gốc là 70.000.000 đồng, lãi tính đến ngày xét xử (30/9/2022) là 21.159.802 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.Trường hợp bà T và ông S không thực hiện thanh toán các khoản nợ nói trên cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 463/HĐTC ngày 30/5/2018 để thu hồi nợ.
Về án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Áp dụng Điều 147,157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bà T và ông S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về hợp đồng tín dụng: Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số: 1082/HĐTD ngày 30/5/2018 được ký kết giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai với bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S thì bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S có vay số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 36 tháng, kể từ ngày 30/5/2018, phương pháp trả lãi tiền vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân, mục đích vay theo giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân.
Căn cứ vào báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5011LDS202080487 ngày 04/02/2020: Số tiền vay 40.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 04/02/2021, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 03 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh và chăn nuôi heo thịt. Bà Tuyết, ông Sơn đã trả tiền lãi đến ngày 04/8/2020 và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5011LDS202000942 ngày 09/3/2020: Số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm (0,875%/tháng) thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 09/3/2021, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 03 tháng/1 kỳ, mục đích vay là chăm sóc cà phê kinh doanh. BàT, ông S đã trả tiền lãi đến ngày 25/6/2020.
Sau đó bàT, ông S không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện buộc BàT, ông S phải trả số tiền gốc là 70.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử là 21.159.802 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả nợ xong theo 02 giấy nhận nợ kiên báo cáo đề xuất giải ngân số 5011LDS202080487 ngày 04/02/2020 và số số 5011LDS202000942 ngày 09/3/2020 là có căn cứ, cần chấp nhận, cụ thể:
- Tại giấy nhận nợ số giấy nhận nợ số 5011LDS202080487 ngày 04/02/2020: Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 05/8/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2022 là 11.975.425 đồng (trong đó lãi trong hạn là 2.117.260 đồng, lãi quá hạn là 9.858.165 đồng), tổng cộng là 51.975.425 đồng.
- Tại giấy nhận nợ số 5011LDS202000942 ngày 09/3/2020: Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền gốc là 30.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 26/6/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2022 là 9.184.377 đồng (trong đó lãi trong hạn là 2.217.945 đồng, lãi quá hạn là 6.966.432 đồng), tổng cộng là 39.184.377 đồng.
Bà T và ông S phải tiếp tục trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng.
Về việc xử lý tài ản bảo đảm: Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 463/HĐTC ngày 30/5/2018 được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, Hợp đồng đã được công chứng, chứng thực bởi các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, phù hợp với quy định tại các Điều 292, 293, 295, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, kiểm tra hiện trạng sử dụng xác định được hiện trạng sử dụng đất có ranh giới, tứ cận, vị trí, tờ bản đồ đất phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N785884 ngày 03/12/1998. Tại thời điểm thẩm định tài sản không có tranh chấp với bên thứ ba nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Do đó, trong trường hợp bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp trên để thu hồi nợ theo Điều 299 của Bộ luật dân sự và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là: 3.500.000 đồng, bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải chịu. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí này. Do đó, cần buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng số tiền này, phù hợp với Điều 157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 280, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 322, 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự.
- Điều 90, 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền là 51.975.425 đồng, trong đó tiền gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 05/8/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2022 là 11.975.425 đồng (trong đó lãi trong hạn là 2.117.260 đồng, lãi quá hạn là 9.858.165 đồng).
Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền là 39.184.377 đồng, trong đó tiền gốc là 30.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 26/6/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2022 là 9.184.377 đồng (trong đó lãi trong hạn là 2.217.945 đồng, lãi quá hạn là 6.966.432 đồng).
Tổng cộng là 91.159.802 đồng, trong đó tiền gốc là 70.000.000 đồng, tiền lãi là 21.159.802 đồng (lãi trong hạn là 4.335.205, lãi quá hạn là 16.824.597 đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).
2. Trường hợp bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 463/HĐTC ngày 30/5/2018 để thu hồi nợ.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai chi phí xem xét lại chỗ là 3.500.000 đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Xuân S phải chịu 4.557.790 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chư Păh Đông Gia Lai số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.031.700 đồng theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0007128, ngày 17 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND h.Chư Păh; -THADS h.Chư Păh; -Đương sự; -Lưu HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hòa |