vanban.org

Bản án 27/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 29/12/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày: 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Ch p nhận đơn khởi kiện về tranh ch p “Quyền sử dụng đất bị lấn chiế ” đề ngày 07/01/2022 của ông Nguyễn Hữu T.. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Hữu T - Võ Văn S"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/DS-PT
Ngày : 29/12/2022
“V/v tranh ch p Quyền sử dụng
đ t bị l n chiếm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Huỳnh Nguyên.

Các Thẩm phán : Ông Ngô Văn Minh và ông Vũ Văn Thu n

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum: Ông Lê Văn Việt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2022/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày: 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 32/2022/QĐXX-PT ngày 11 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T., sinh năm 1981;Có m t

Địa chỉ: Số 76 Lê Quý Đ1, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Bị đơn: Ông Võ Văn S., sinh năm 1965; Có m t

Địa chỉ: Thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Vũ Thị C, sinh năm 1975; Có m t

Địa chỉ: Thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

2/ Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1985; Có m t

Địa chỉ: Số 76 Lê Quý Đ1, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Những người làm chứng:

+ Ông oàng Văn B, sinh năm 1963; Vắng m t

Địa chỉ: ố 55 uỳnh Thúc háng, phường Quang Trung, thành phố on Tum, tỉnh on Tum.

+ Anh Lê Thiện P và chị Huỳnh Thị N; Vắng m t

Địa chỉ: Thôn 4,

òa B nh, thành phố on Tum, tỉnh on Tum.

+ Bà Nguyễn Thị Tuyết M; Có m t

Địa chỉ: Thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện ngày 07/01/2022, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T. trình bày:

Lô đ t diện tích 562m2, tờ bản đồ số 09, thửa đ t số 36, tại địa chỉ: Thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Hữu T., đ được UBND thị xã Kon Tum c p GCNQ DĐ ngày 20/4/2007, số vào sổ c p GCN: H00515, số phát hành AI520128có tứ cận như sau:

- Đ1g giáp thửa 303 dài 57m;

- Tây giáp thửa 302, dài: 56.5 m;

- Nam giáp đường thôn 9, rộng: 10 m;

- Bắc giáp khe cạn rộng 10.

Nguồn gốc lô đ t: năm 2002 ông Nguyễn Hữu T. mua chung đ t với ông oàng Văn B, mua của vợ chồng bà Nguyễn Thị Tuyết M, ông Võ Tr (đ chết) tại thôn 9 xã ĐC, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M có viết gi y tay ký bán, trong gi y viết tay có ghi rõ tên của ba người, trong đó có một phần của ông là Nguyễn Hữu T.. Trong gi y viết tay này có ghi rõ chiều ngang là 60 m và chiều dài tới khe suối cạn. Ông B là người đại diện đứng ra ký gi y tờ với vợ chồng ông Tr bà M. Ngày 06/5/2003 hộ ông Nguyễn Hữu T. được UBND thị xã Kon Tum c p GCNQ Đ với diện tích 1.129 m2, theo diện tích đ mua của vợ chồng ông Tr bà M. Năm 2006 ông Nguyễn Hữu T. đ chuyển nhượng ông Hồ Quốc Minh với diện tích 279m2, chuyển nhượng cho ông Lê Thiện P và bà Huỳnh Thị N diện tích 282m2, diện tích còn lại là 562m2, ngày 20/4/2007 ông Nguyễn Hữu T. được UBND thị xã Kon Tum c p GCNQ DĐ số AI520128, thửa đ t số 36, tờ bản đồ số 9. Từ đó tới nay, ông Nguyễn Hữu T. chưa sử dụng đến đ t (để trống) và không rào chắn lại. Đến tháng 9 năm 2021, ông Nguyễn Hữu T. phát hiện đ t bị ông Võ Văn S. rào chiếm sử dụng phần cuối của lô đ t với diện tích đo đạc thực tế là 128m2.

Nay ông Nguyễn Hữu T. yêu cầu: buộc ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C dỡ bỏ hàng rào kẽm B40, 01 trụ bê tông và 03 cây chuối, 07 cây tràm, 03 cây bạch đàn trả lại diện tích đ t đ l n chiếm 128m2.

Bị đơn ông Võ Văn S. và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị C trình ày:

Năm 1988 Ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M (là cha mẹ đẻ của ông Võ Văn S.) đ khai hoang đ t rừng để canh tác trồng lúa, trồng mì, hoa quả, vị trí đ t hiện nay thuộc thôn 9, Đăk C m. Đến năm 1994 ông Võ Văn S. lập gia đ nh, nên cha mẹ cho vợ chồng ông 01 lô đ t tại thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum để xây dựng nhà ở, nhưng vợ chồng ông bà không làm nhà ở mà chỉ sử dụng đ t để trồng m . Đến năm 2010 vợ chồng ông có dùng trụ bê tông, rào dây kẽm b40 để làm ranh giới thửa đ t được cho, năm 2014 trồng một số cây tràm, cây bạch đàn, lô đ t có vị trí, tứ cận hiện tại như sau:

Phía Đ1g giáp đường Hoàng Thành;

Phía Tây giáp hộ gia đ nh dân cư;

Phía Nam giáp đ t ông Hoàng, ông B;

Phía Bắc giáp đ t ông Xong.

Ông S. bà C biết vào khoảng năm 2002 cha mẹ (ông Tr bà M) sang nhượng cho ông oàng Văn B với diện tích 3.000m2 (3 sào), có chiều rộng m t đường thôn là 60 m, chiều dài 50m, mua bán viết gi y tay. Ông oàng Văn B đ sang nhượng lại cho ông Nguyễn ữu Tu n 20m chiều ngang theo m t đường và chiều dài 50m. Ông bà t m hiểu được biết GCNQ DĐ mang tên vợ ông B là bà Nguyễn Thị Minh Đào, do BND thị

on Tum c p ngày 20/4/2007 chiều ngang m t tiền 10m, chiều dài 57m, diện tích 567,5 m2, như vậy là ông B đ l n chiếm đ t của ông bà là 10 m 7 m. Ông Tu n mua lại của ông B cũng giống nhau về chiều dài nên đ t ông Tu n l n chiếm đ t của ông bà ước tính trên 70 m2. Ông Nguyễn ữu Tu n yêu cầu ông bà hoàn trả 160m2 , nay thay đổi là 128m2 và buộc tháo hàng rào kẽm B40, trụ bê tông, 03 cây chuối, 03 cây bạch đàn, 07 cây tràm để trả lại đ t cho ông T. là không đúng, không có căn cứ pháp luật.

Gia đ nh ông bà khó khăn nên chưa làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đ t với cơ quan chức năng nhưng ông bà sử dụng liên tục cho đến nay. Ông Hoàng Văn B là người mua đ t của gia đ nh ông bà, đề nghị ông B cung c p gi y mua bán để xem xét.

Người là chứng à Nguyễn Thị Tuyết M trình ày: Năm 1998, gia đ nh bà khai hoang đ t, trồng mì, diện tích khai hoang không nhớ diện tích bao nhiêu. Năm 2002, bà và ông Võ Tr (chồng của bà) đ bán cho ông oàng Văn B diện tích 3 sào (3.000m2 ), chiều ngang m t đường thôn 9 là 60m, chiều dài 50m. Ngoài ra vợ chồng bà còn bán cho ông Nguyễn Hữu Hoàng, bà không nhớ là bán với diện tích là bao nhiêu, bán cho ông B Tr, sau đó mới bán cho ông Hoàng. Trong tổng diện tích vợ chồng ông bà đ khai hoang bà không sang nhượng ở phần đuôi, mà bà chỉ sang nhượng phần Tr lô đ t, còn giữ lại phần đuôi của lô đ t, diện tích còn lại bao nhiêu bà cũng không biết. Phần diện tích còn lại ở đuôi lô đ t là bà đ cho con trai bà là ông Võ Văn S.. Con bà vẫn sử dụng liên tục diện tích đ t này từ khi bà t ng cho đến nay, bà cam đoan chỉ bán cho ông B 60m chiều ngang, 50m chiều dài; đề nghị ông B cung c p gi y tờ mua bán để Tòa xem xét.

Người là chứng ông Hoàng Văn B trình bày:

Năm 2002, ông cùng với ông Nguyễn Hữu T. và bà Võ Thị Sáu cùng chung nhau mua 60m đ t m t đường thôn 9 đến mép suối theo gi y sang nhượng đ t viết tay của ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M, mỗi người 20m ngang, đ được c p gi y chứng nhận Q DĐ. au khi mua đ t, hàng năm ông trồng mỳ trên đ t của ông và của ông Nguyễn Hữu T., đến năm 2007 do điều kiện công tác nên không có thời gian để trồng và thăm nom đ t.

Người làm chứng anh Lê Thiện P và chị Huỳnh Thị N trình bày: Anh chị có nhận chuyển nhượng diện tích đ t của ông Nguyễn Hữu T. vào khoảng giữa năm 2006, diện tích: 282m2, chiều ngang giáp m t đường rộng: 05m, chiều dài 57m. Đến ngày 20/4/2007, được c p GCNQ DĐ số AI 520124, diện tích 282m2.

Ủy B nhân dân xã ĐC cung cấp:

Nguồn gốc và việc đăng ký, kê khai sử dụng đối với tại thửa đ t số 36, tờ bản đồ số 09 tại thôn 9 xã ĐC, thành phố Kon Tum, Ủy B chỉ có Hồ sơ đo đạc nghiệm thu đưa vào sử dụng năm 2009 mang tên ông Nguyễn ữu T., ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện vợ chồng ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M khai hoang, ông bà không kê khai, không làm thủ tục về quản lý, sử dụng đ t đai.

Về cung c p các tài liệu, chứng cứ mà có liên quan đến thửa đ t số 36, tờ bản đồ số 09 nêu trên, Ủy B cung c p bản photo đo đạc nghiệm thu đưa vào sử dụng vào năm 2009.

Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Kon Tu cung cấp:

GCNQ DĐ số phát hành X 198653, tờ bản đồ số 09, thửa số 36, địa chỉ thửa đ t tại thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum do UBND thị xã Kon Tum c p ngày 06/5/2003 cho ông Nguyễn Hữu T., tại sơ đồ trích lục thửa đ t được đo đạc tỷ lệ 1/1000. Theo tỷ lệ 1/1000 thì phía cạnh Đ1g thửa đ t có kích thước khoảng 57m và cạnh phía Tây thửa đ t có kích thước khoảng 65.5m.

GCNQ DĐ số phát hành AI 520128, tờ bản đồ số 09, thửa số 36, địa chỉ thửa đ t tại thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum do UBND thị xã Kon Tum c p ngày 20/4/2007 cho ông Nguyễn Hữu T., tại sơ đồ trích lục thửa đ t thể hiện cạnh Đ1g thửa đ t có kích thước 57m và cạnh Tây thửa đ t có kích thước 66.5m.

Như vậy, chiều dài cạnh phía Đ1g và cạnh phía Tây của thửa đ t nêu trên theo 02 GCNQ DĐ số phát hành X 198653 và GCNQ DĐ số phát hành AI 520128 là tương đương giống nhau.

Quá trình c p GCNQ DĐ số phát hành X 198653, tờ bản đồ số 09, thửa đ t số 36, địa chỉ thửa đ t tại thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, c p ngày 06/5/2003 không thể hiện cạnh phía Bắc thửa đ t giáp khe cạn là do căn cứ bản đồ địa Ch được đo đạc năm 2001 không thể hiện. Tuy nhiên đến năm 2007 khi chuyển đổi mục đích sử dụng đ t c p lại GCNQ DĐ tại số phát hành AI 520128 có thể hiện khe cạn là do cán bộ thụ lý hồ sơ đi kiểm tra thực trạng thực tế có khe cạn và thể hiện trên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t giáp khe cạn là đúng quy định.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/4/2022 do cấp sơ thẩm tiến hành thể hiện:

* Về đ t:

- Tổng thể diện tích đ t ông Nguyễn Hữu T. đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào năm 2007, diện tích 562m2, có tứ cận:

Đ1g giáp thửa 303 dài 57m;

Tây giáp thửa 302, dài: 56.5 m;

Nam giáp đường thôn 9, rộng: 10 m;

Bắc giáp khe cạn rộng 10.

- Diện tích đ t tranh ch p do ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C đang sử dụng là 128m2, có tứ cận:

Phía Đ1g giáp thửa 303 dài 13 m;

Phía Tây giáp giáp thửa 302 dài 12,6m;

Phía Bắc giáp khe cạn rộng 10m;

Phía Nam giáp đ t ông Nguyễn Hữu T. thực tế đang sử dụng rộng 10m.

*Tài sản trên đ t tranh ch p: Vợ chồng Võ Văn S., bà Vũ Thị C dựng hàng rào thép gai B40 dài 10m; và 03 cây chuối, 03 cây bạch đàn, 07 cây tràm, 01 trụ bê tông i măng.

Kết quả định giá tài sản:

1) Trị giá đ t tranh ch p:

- Giá Nhà nước: 128m2 24.000 đồng/m2 2 = 6.144.000 đồng.

- Giá thị trường: Trên cơ sở ý kiến của các đương sự về trị giá đ t tranh ch p, Hội đồng định giá khảo sát về giá và tiến hành thảo luận, xét th y diện tích đ t tranh ch p nhỏ, nằm phía sau đuôi của lô đ t, không có đường đi vào, không chuyển nhượng được thực tế trên địa bàn, do đó ội đồng định giá thống nh t trị giá đ t tranh ch p là 50.000.000 đồng.

2) Trị giá tài sản trên đ t tranh ch p:

- Hàng rào thép gai B40 cao dài 10m, trụ bê tông không còn giá trị sử dụng,

- 03 cây chuối 45.000 đồng = 135.000 đồng.

- 07 cây tràm 90.000 đồng = 630.000 đồng 0,8 = 504.000 đồng (0,8 mức độ phát triển x u).

- 03 cây bạch đàn 90.000 đồng = 270.000 đồng 0,8 = 216.000 đồng (0,8 mức độ phát triển x u).

Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày: 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 163, 164 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 98, khoản 1 Điều 170; khoản 1 Điều 203 Luật Đ t đai.

Ch p nhận đơn khởi kiện về tranh ch p “Quyền sử dụng đất bị lấn chiế ” đề ngày 07/01/2022 của ông Nguyễn Hữu T..

Xử:

Buộc ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C phải di dời, tháo dỡ hàng rào thép gai B40 rộng 10m và 03 cây chuối, 03 cây bạch đàn, 07 cây tràm, 01 trụ bê tông xi măng trả lại diện tích đ t 128m2 cho ông Nguyễn Hữu T. và bà Đỗ Thị D có tứ cận như sau:

Phía Đ1g Giáp thửa 303 dài 13 m;

Phía Tây giáo giáp thửa 302 dài 12,6m;

Phía Bắc giáp khe cạn rộng 10m;

Phía Nam giáp đ t ông Nguyễn Hữu T. thực tế đang sử dụng rộng 10m.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/9/2022, ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị c p phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện. người kháng cáo giữ nguyên đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đ tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng các đương sự đ ch p hành đầy đủ các quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 293, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị ĐXX phúc thẩm không ch p nhận đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C được lập đúng theo thủ tục và trong hạn luật định, nên được ĐXX em ét theo thủ tục phúc thẩm.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: c p sơ thẩm đ ác định đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C:

Nguồn gốc diện tích đ t đang có tranh ch p đều được các bên đương sự thừa nhận là do ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M khai hoang vào khoảng năm 1988. Vợ chồng ông S. bà C trình bày: Diện tích đ t này đ được ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M t ng cho vợ chồng ông bà vào năm 1995, việc t ng cho không lập thành văn bản nhưng đều được các anh em trong gia đ nh thừa nhận. Tòa án c p phúc thẩm đ tiến hành l y lời khai của bà Nguyễn Thị Tuyết M và những người con của bà M về nội D quyền và nghĩa vụ của họ đối với diện tích đang có tranh ch p. Bà M và những người con đều thống nh t trả lời: Diện tích đ t đang có tranh ch p đ được cha mẹ (ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M) t ng cho vợ chồng ông S. bà C, bà M và những người con khác của bà M không có quyền và nghĩa vụ gì với diện tích đ t này. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm đ ác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án tại c p sơ, phúc thẩm, ông S. bà C đề nghị Tòa án thu thập gi y viết tay của ông Võ Tr để đối chiếu diện tích chuyển nhượng. Ngày 30/3/2022 TAND thành phố on Tum đ có Quyết định yêu cầu cung c p tài liệu, chứng cứ số 104/2022/QĐ-CTLCC đối với Chi nhánh văn phòng đăng ký đ t đai thành phố Kon Tum, yêu cầu cung c p:“tài liệu căn cứ về nguồn gốc để cấp GCNQSDĐ số phát hành X 198653, số vào sổ cấp GCN: 00825, cấp ngày 06/5/2003 mang tên Nguyễn Hữu T.”. Tại văn bản số 392/CV-CNVPĐĐ ngày 12/4/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đ t đai thành phố Kon Tum trả lời nội D: “Ngày 06/5/2003 ông Nguyễn Hữu T. được UBND thị xã Kon Tum cấp GCNQSDĐ tại thửa số 36, tờ bản đồ số 9, tại Thôn 9, xã ĐC, thành phố Kon Tum, diện tích 1.129m2. Tuy nhiên qua quá trình luân chuyển kho nhiều lần, hồ sơ cấp GNQSDĐ của ông Nguyễn Hữu T. nêu trên bị thất lạc.” (bút lục 69)

Ngày 26/10/2022, TAND tỉnh Kon Tum tiếp tục có Quyết định yêu cầu cung c p tài liệu, chứng cứ số 153/2022/QĐ-CCTLCC đối với Chi nhánh văn phòng đăng ký đ t đai thành phố Kon Tum, yêu cầu cung c p: “Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thưả đất số 36, tờ bản đồ số 9, vị trí đất: Xã ĐC, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tu , đã được cấp GCNQSDĐ số X 198653 ngày 06/5/2003 cho ông Nguyễn Hữu T.”. Ngày 13/12/2022, TAND tỉnh Kon Tum nhận được văn bản số 1995/CNVPĐ ĐĐ-TH ngày 07/12/2022 của Chi nhánh VPDD ĐĐ thành phố Kon Tum với nội D: “Ngày 06/5/2003 ông Nguyễn Hữu T. được UBND thị xã Kon Tum cấp GCNQSDĐ tại thưả đất số 36, tờ bản đồ số 9, vị trí đất: Xã ĐC, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, diện tích 1.129m2, theo Quyết định số 29/QĐ-UB ngày 06/5/2003 của UBND thị xã Kon Tum, tờ trình số 08/TT-DCNĐ ngày 12/02/2003 của Phòng địa Ch nhà đất”. èm theo văn bản trên là bản sao hồ sơ c p GCNQ DĐ lần đầu của các ông bà Nguyễn Hữu T., Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Đào, hồ sơ này không có gi y chuyển nhượng viết tay giữa ông Võ Tr và ông oàng Văn B.

Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đ tiến hành làm việc với ông Nguyễn Hữu T. và ông oàng Văn B về nội D: Cung c p gi y viết tay chuyển nhượng Q DĐ của ông Võ Tr. Ông T. và ông B đều khẳng định đ nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi làm thủ tục xin c p GCNQ DĐ lần đầu.

Xét thấy, Tòa án đ tiến hành đầy đủ các biện pháp để thu thập tài liệu chứng cứ là: Gi y viết tay chuyển nhượng Q DĐ của ông Võ Tr. Tuy nhiên, Tòa án không thu thập được tài liệu này và sẽ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác để giải quyết vụ án.

Đối với diện tích đ t 128m2 đang có tranh ch p:

Về nguồn gốc đ t này do ông Nguyễn Hữu T. nhận sang nhượng của vợ chồng ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M năm 2002, đến ngày 06/5/2003 cho ông Nguyễn Hữu T. được UBND thị xã Kon Tum c p GCNQ DĐ số X 198653 diện tích 1.129m2, là đúng pháp luật.

Năm 2006 ông Nguyễn Hữu T. đ chuyển nhượng ông Hồ Quốc Minh diện tích 279m2, chuyển nhượng cho ông Lê Thiện P và bà Huỳnh Thị N diện tích 282m2. Ngày 20/4/2007 ông Nguyễn Hữu T. được UBND thị xã Kon Tum c p GCNQ DĐ số AI520128, thửa đ t số 36, tờ bản đồ số 9, diện tích còn lại là 562m2.

Kết quả Buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/4/2022 của TAND thành phố Kon Tum khẳng định: Diện tích đ t có tranh ch p là 128m2, do ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C l n chiếm, nằm trong phần diện tích đ t ông Nguyễn Hữu T. được c p GCNQ DĐ số phát hành AI520128, sổ c p GCN: H00515 do UBND thị xã Kon Tum c p ngày 20/4/2007.

Diện tích 128m2 đ t tranh ch p có tứ cận như sau:

+Phía Đ1g giáp thửa 303 dài 13 m;

+Phía Tây giáp giáp thửa 302 dài 12,6m;

+Phía Bắc giáp khe cạn rộng 10m;

+Phía Nam giáp đ t ông Nguyễn Hữu T. thực tế đang sử dụng rộng 10m.

Quá trình giải quyết vụ án tại c p sơ thẩm, phúc thẩm, vợ chồng ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C đều cho rằng ông Nguyễn Hữu T. l n chiếm đ t của vợ chồng ông bà diện tích (10mx7m)=70m2 nhưng không cung c p các tài liệu, chứng cứ để chứng minh diện tích đ t đang có tranh ch p thuộc quyền sử dụng của mình.

Kết quả xác minh do Ủy B nhân dân xã ĐC, thành phố on Tum cung c p ngày 14/7/2022 thể hiện: Vợ chồng ông Võ Tr và bà Nguyễn Thị Tuyết M không kê khai, không làm thủ tục về quản lý, sử dụng đ t đai đối với thửa đ t đang tranh ch p.

Qua những phân tích trên, không có cơ sở để ch p nhận đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

V đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C không được ch p nhận nên ông bà phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

- Không ch p nhận đơn kháng cáo của ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C.

- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày: 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

Xử:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 163, 164 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 98, khoản 1 Điều 170; khoản 1 Điều 203 Luật Đ t đai.

Ch p nhận đơn khởi kiện về tranh ch p “Quyền sử dụng đất bị lấn chiế ” đề ngày 07/01/2022 của ông Nguyễn Hữu T..

Xử:

1. Buộc ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C phải di dời, tháo dỡ hàng rào thép gai B40 rộng 10m và 03 cây chuối, 03 cây bạch đàn, 07 cây tràm, 01 trụ bê tông i măng trả lại diện tích đ t 128m2 cho ông Nguyễn Hữu T. và bà Đỗ Thị D có tứ cận như sau:

Phía Đ1g giáp thửa 303 dài 13 m;

Phía Tây giáp thửa 302 dài 12,6m;

Phía Bắc giáp khe cạn rộng 10m;

Phía Nam giáp đ t ông Nguyễn Hữu T. thực tế đang sử dụng rộng 10m.

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

Áp dụng khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc ông Võ Văn S. phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng mà ông Võ Văn S. và bà Vũ Thị C đ nộp theo biên lai số 0001021 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố on Tum. Ông Võ Văn S. còn phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại ông Nguyễn Hữu T. số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai thu tiền số 0000557 ngày 19/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum.

Ông Võ Văn S. phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản. Ông Nguyễn Hữu T. đ tạm nộp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền chi phí, nên ông Võ Văn S. phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hữu T. số tiền: 5.000.000 (Năm triệu đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/12/2022).

Cỡ chữ