- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HSST Ngày 08 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Ngô Quốc Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2021/TLST-HS, ngày 25 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H , tên gọi khác: Không; Sinh năm 1998; tại: Phổ Yên, Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm L 2, xã TT, thị xã PY, tỉnh TN.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn Thơ, sinh năm 1966; con bà: Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/10/2020, tạm giam từ ngày 07/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1. Ông Phạm Văn K, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm XĐ, xã TT, thị xã PY, tỉnh TN.
2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm XĐ, xã TT, thị xã PY, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 29/10/2020, Tổ công tác Công an thị xã Phổ Yên tiến hành tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Xây Tây, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên thì phát hiện bên phải hành lang đường Quốc lộ 3 cũ (hướng Hà Nội đi Thái Nguyên) một đối tượng nam giới có biểu hiện liên quan đến ma túy, nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng nam giới khai tên là Nguyễn Văn H , sinh 1998, trú tại: Xóm Xuân Lai 2, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; đồng thời tự giác lấy trong túi quần đang mặc bên phải 01 túi nilon, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể (nghi là ma túy tổng hợp dạng đá) giao nộp cho tổ công tác. Căn cứ vào hành vi nêu trên, Tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng rồi đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 16 giờ, ngày 29/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy đá dạng tinh thể thu giữ của Nguyễn Văn H xác định có khối lượng là 0,210 gam; rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu K gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 05/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận: “Mẫu chất rắn mầu trắng dạng tinh thể trong phong bì ký hiệu K gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine và Ketamin, có khối lượng là 0,210 gam;”.
Ngày 05/11/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên đã lấy toàn 0, 127 gam ma túy hoàn lại sau giám định, ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung tại Viện khoa học hình sự - Bộ công an tiến hành giám định về hàm lượng các chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 7853/C09-TT2 ngày 06/11/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đã kết luận: “Hàm lượng Methamphetamine và Ketamine trong 0,127 gam mẫu (niêm phong ký hiệu K) gửi giám định lần lượt là: 47% và 9,8%”.
Ngày 06/11/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên ban hành công văn số 1563/CV-CSĐT đề nghị Viện khoa học hình sự - Bộ công an quy đổi và xác định khối lượng chất ma túy Methamphetamine và Ketamine trong 0,127 gam gửi giám định là bao nhiêu, khối lượng chất ma túy Methamphetamine và Ketamin trong 0,210 gam mẫu thu giữ ban đầu có khối lượng là bao nhiêu? Tại Công văn số 2293/C09-TT2 ngày 09/11/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an về việc quy đổi khối lượng chất ma túy đã xác định:
“-Khối lượng Methamphetamine và Ketamine trong 0,127 gam mẫu gửi giám định lần lượt là: 0,060 gam và 0,012 gam.
- Khối lượng Methamphetamine và Ketamine trong 0,210 gam mẫu thu giữ ban đầu lần lượt là: 0,100 gam và 0,020 gam”
Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận: Do bản thân là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp, nên khoảng 13 giờ, ngày 29/10/2020 Hiếu đi đến khu vực xóm Kim Tỉnh, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi Hiếu đi vào một ngôi nhà có cửa xếp bằng sắt đóng kín ở bên trái hành lang đường quốc lộ 3 cũ (hườngThái Nguyên - Hà Nội) rồi đưa qua lỗ nhỏ dưới khe cửa sắt số tiền 150.000đ thì được người ở phía trong đưa ra 01 gói ma túy (Hiếu không xác định được rõ địa chỉ và người bán ma túy là ai). Sau khi mua được số ma túy trên xong, Hiếu cất trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi ra khu vực xóm Xây Tây, xã Thuận Thành để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSPY, ngày 22/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 21/CT-VKSPY, ngày 22/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “75853/C09-TT2”, bên trong chứa 0,087 gam mẫu hoàn lại sau giám định và; 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “L” lưu vỏ bao mẫu;
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
Người chứng kiến: Anh Phạm Văn Khánh và Nguyễn Văn Cần trình bày: Khoảng 13 giờ 15 phút, ngày 29/10/2020 khi đi qua khu vực đường dân sinh thuộc địa phận xóm Xây Tây, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên thì được Tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra người này nói tên là Nguyễn Văn H , đồng thời tự lấy trong túi quần bên trái đang mặc trên người 01 túi nilon, bên trong chưa chất rắn dạng tinh thể, Hiếu khai là ma túy đá mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng trên và đưa Hiếu về cơ quan công an giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 29/10/2020, tại khu vực hành lang đường dân sinh thuộc địa phận xóm Xây Tây, xã Thuận Thành thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,100 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,020 gam ma túy, loại Ketamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo Hiếu khai là mua của một người (không rõ nam hay nữ) nhà có cửa xếp bằng sắt gần hành lang bên trái đường Quốc lộ 3 cũ (hướng Thái Nguyên - Hà Nội) thuộc địa phận xóm Kim Tỉnh, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,100 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,020 gam ma túy, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, do bị cáo tàng trữ 02 loại chất ma túy là Methamphetamine và Ketamine có tổng khối lượng là 0,120 gam, nên theo hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng số 21/VKSPY ngày 22/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại: Xóm L 2, xã TT, thị xã PY, tỉnh TN; từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 11/12, sau khi nghỉ học ở nhà lao động tự do; Bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo
[7]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn H , nhà ở gần hành lang đường Quốc lộ 3 cũ, nhưng do Hiếu không xác định được chủ ngôi nhà và người bán ma túy, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[8]. Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “75853/C09-TT2”, bên trong chứa 0,087 gam mẫu hoàn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “L” lưu vỏ bao mẫu
- Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2020.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “75853/C09-TT2”, bên trong chứa 0,087 gam mẫu hoàn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “L” lưu vỏ bao mẫu;
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên, ngày 04/3/2021)
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thị xã Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thị xã Phổ Yên; - Chi cục THADS thị xã Phổ Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Hồng Hải Nguyễn Thị Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cần |