vanban.org

Bản án 27/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Tuyên án 29/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Văn T.. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Văn T.. 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 12/6/2021 (ngày mười hai, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T.. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Văn T.. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 27/2021/HSST
Ngày 29-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Phương;

2. Ông Ngô Văn Cường.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, cán bộ

Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện

Tịnh Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2021/HSST

ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Văn T.., sinh ngày 14/02/2002, nơi sinh tại huyện Tịnh Biên,

tỉnh An Giang; nơi đăng ký HKTT: tổ 5, khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh

A; chỗ ở hiện nay: tổ 21, khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp:

không; trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn

giáo: Đạo phật, con ông Nguyễn Vĩnh H.., sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị

X.., sinh năm 1980; Bị cáo là người thứ nhất trong gia đình, có 02 người;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an

huyện Tịnh Biên, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị X.., sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ 5, khóm X, thị trấn T,

huyện T, tỉnh A, có mặt;

- Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Văn D.., sinh năm 1960, có mặt.

2. Ông Chau N.., sinh năm 1955, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 12 tháng 6 năm 2021, tại khu vực tổ 4, ấp

B, xã A, huyện T, tỉnh A, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Tịnh Biên phối hợp Công an xã A tuần tra kiểm soát bắt quả tang Nguyễn Văn T.. có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- 01 (một) bọc nilon trong suốt một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ bên

trong có chứa 03 (ba) bọc nilon trong suốt được hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là mà túy và 08 (tám) gói màu vàng trong đó có 02 gói ghi số 3, bên trong mỗi gói màu vàng có chứa 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy được để trong 01 (một) hộp giấy bao thuốc lá hiệu “Sài Gòn” (Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 12/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên);

- 01 (một) bao (vỏ) thuốc lá hiệu Sài Gòn;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xám trắng, có gắn 01

(một) thẻ sim, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô biển số 61G1-368.51, màu: xám – đen – bạc, số

khung RLCE55P10BY018518, số máy 55P1-018523, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter;

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 61 G1-368.51 mang tên

Trần Đình T1...

Tại bản kết luận giám định số: 138/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 19/6/2021

của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận: Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có tổng khối lượng 13,4950g (một ba phẩy bốn chín năm không gam).

Bản kết luận giám định số 121/KLGT-PC09(TL) ngày 25/8/2021 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận: Phôi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 138400 ký hiệu A là phôi giấy giả.

Bản kết luận giám định số 110/KLGT- PC09(KT) ngày 04/8/2021 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận: Số khung, số máy xe mô tô gửi giám định không bị cắt hàn, không bị đục sửa, không bị hoen gỉ, không bị tẩy xóa.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSTB.HS ngày 07 tháng 10 năm 2021,

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T.. về

2

tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật

Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt Bộ luật hình sự).

Tại Cơ quan điều tra,

- Bị cáo Nguyễn Văn T.. khai nhận hành vi như đã nêu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X.. khẳng định

tình tiết liên quan về tài sản là xe mô tô 6G1-368.51, phù hợp với lời khai

của bị cáo.

- Người chứng kiến đều có lời khai phù hợp về việc chứng kiến bắt

người phạm tội quả tang đối với bị cáo.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Nguyễn Văn T.. khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên

ngày 12/6/2021 có mua ma túy đá của người đàn ông tên R.. (không rõ họ, địa

chỉ), với giá 3.200.000 đồng trên đường mang về nhà cất thì bị lực lượng công

an phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bị cáo

không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng

xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: không có ý kiến tranh luận.

- Kiểm sát viên, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên vẫn

giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp

dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ

luật hình sự;

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn

tù tính từ ngày 12/6/2021.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung

là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự;

Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) hộp giấy được niêm phong (vụ số 138/KLĐT-PC09 (MT)

ngày 19/6/2021 có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa và

Nguyễn Văn Vũ. Bên trong có mẫu M1, M2, M3 còn lại sau khi giám định,

tổng khối lượng 13,223g ma túy, loại Methamphetamine;

- 01 (một) bao (vỏ) thuốc lá hiệu Sài Gòn.

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

3

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xám trắng, có gắn một thẻ

sim, đã qua sử dụng;

Vấn đề khác:

- Đối với người tên R.. bán ma túy cho T.. chưa xác định được họ, địa

chỉ. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với vật chứng thu giữ 01 xe mô tô biển số 61G1-368.51 và Giấy

chứng nhận đăng ký xe mô tô 61 G1-368.51 mang tên Trần Đình T1.., qua giám định, kết luận: Phôi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 138400 ký hiệu A là phôi giấy giả. Nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tịnh

Biên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T.. khai nhận hành vi phạm

tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, cũng phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra. Đồng thời còn phù hợp với vật chứng vụ án được thu giữ.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy

hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác, tạo nên sự bất ổn cho an ninh trật tự xã hội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, đã cố ý cất giữ chất ma túy nhằm để sử dụng mà qua kết luận giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 13,4950 gam.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T.. có đầy

đủ dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

4

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình

phạt đối với bị cáo:

Không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo; ăn năn hối

cải; chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy

định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình

tiết giảm nhẹ, cũng như nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần có mức

án nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian,

nhằm tạo điều kiện cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình,

cũng để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, mức hình phạt mà

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là

tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng:

* Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) hộp giấy được niêm phong (vụ số 138/KLĐT-PC09 (MT)

ngày 19/6/2021 có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa và

Nguyễn Văn Vũ. Bên trong có mẫu M1, M2, M3 còn lại sau khi giám định,

tổng khối lượng 13,223g ma túy, loại Methamphetamine;

- 01 (một) bao (vỏ) thuốc lá hiệu Sài Gòn;

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xám trắng, có gắn một thẻ

sim, đã qua sử dụng;

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là

hình phạt tiền đối với bị cáo.

Vấn đề khác:

- Đối với người tên R.. bán ma túy cho T.. chưa xác định được họ, địa

chỉ. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với vật chứng thu giữ 01 xe mô tô biển số 61G1-368.51 và Giấy

chứng nhận đăng ký xe mô tô 61 G1-368.51 mang tên Trần Đình T1.., qua

giám định, kết luận: Phôi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số

138400 ký hiệu A là phôi giấy giả. Nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác

minh, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

5

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1

Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Nguyễn Văn T.. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn T.. 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 12/6/2021 (ngày mười hai, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt).

- Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

3. Biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) hộp giấy được niêm phong (vụ số 138/KLĐT-PC09 (MT)

ngày 19/6/2021 có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa và Nguyễn Văn Vũ. Bên trong có mẫu M1, M2, M3 còn lại sau khi giám định, tổng khối lượng 13,223g ma túy, loại Methamphetamine;

- 01 (một) bao (vỏ) thuốc lá hiệu Sài Gòn;

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xám trắng, có gắn 01 thẻ sim, đã

qua sử dụng;

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/10/2021 giữa Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố

tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T.. phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng

án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

6

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

LuậtThi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi

hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,

tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các

Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện

theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ