- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bình Phúc S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bình Phúc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày: 28-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hồng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Nguyễn Thành Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2021/TLST-HS, ngày 17 tháng 3 năm 2021,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Bình Phúc S, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1997, tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L và bà Nguyễn Kim L1; anh, chị em ruột 03 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất là bị cáo.
Tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân bị cáo không có án tích, không bị xử lý vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật đã được xóa; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06 tháng 5 năm 2021 đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Huỳnh Phúc S1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Trú tại: ấp Thân Bình, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Huỳnh Hoàng N, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Trú tại: ấp Đồng Bé, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
3. Nguyễn Thanh L, sinh năm 1967 (có mặt)
Trú tại: ấp N, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
4. Nguyễn Kim L1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Trú tại: ấp N, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17 tháng 12 năm 2020 bị cáo Nguyễn Bình Phúc S đang ở nhà thì bạn tên Huỳnh Phúc S1 điện thoại rủ đến nhà trọ Hà Tiên 2, thuộc ấp T1, xã T2, huyện M để sử dụng ma túy thì bị cáo S đồng ý. Bị cáo S điều khiển xe môtô biển số 54M3-1725 đến nhà trọ Hà Tiên 2 gặp Phúc S1 thì Phúc S1 đưa cho bị cáo số tiền 300.000 đồng đi mua ma túy về sử dụng. Sau khi nhận tiền thì bị cáo S điều khiển xe mô tô đến nhà của Huỳnh Hoàng N cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện M mua ma túy với số tiền 200.000 đồng và được N đưa cho 01 (một) bịch ma túy đá. Bị cáo S cầm trên tay trái điều khiển xe môtô về nhà trọ Hà Tiên 2 sử dụng, khoảng 22 giờ cùng ngày khi bị cáo vừa điều khiển xe môtô vào khu vực Nhà trọ thì lực lượng Công an huyện M kết hợp với Công an xã T2 cho dừng phương tiện xe môtô để kiểm tra, bị cáo S bỏ bịch ma túy đá từ trên tay trái xuống đất cách xe môtô khoảng 01 mét nhưng bị lực lượng Công an phát hiện tiến hành thu giữ và niêm phong 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy đá.
Tại Kết luận giám định số: 610/KLGĐ-PC09 ngày 21/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận như sau: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong trong bao gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1512 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 21/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Bình Phúc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng thu giữ: 01 (một) bịch nylon có chứa chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng 0,1102 gam có liên quan trực tiếp trong vụ án, tiếp tục tạm giữ để xử lý.
Đối với các đồ vật và phương tiện đã tạm giữ:
- Mô ̣t điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Nokia , màu đen, cũ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Kim L1 (mẹ ruột của bị cáo) cho bị cáo S mượn sử dụng. Khi lấy điện thoại trên liên lạc để sử dụng ma túy thì bà L1 hoàn toàn không biết nên đã trả lại điện thoại cho bà L1 xong, bà L1 không có yêu cầu khác.
- Một xe môtô biển số 54M3-1725, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh L (cha ruột của bị cáo) cho bị cáo mượn làm phương tiện để đi lại. Khi bị cáo lấy phương tiện trên để đi mua ma túy thì ông L hoàn toàn không biết nên đã trả lại phương tiện trên cho ông L xong, ông L không có yêu cầu khác.
Đối với Huỳnh Phúc S1 và Huỳnh Hoàng N, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra Công an huyện M, S1 và N không thừa nhận hành vi đưa tiền mua ma túy và bán ma túy của mình, nên hiện nay không có cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố hành vi của bị cáo là hoàn toàn đúng sự thật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, 5 Điều 249, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bình Phúc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định; về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng bị cáo S tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bình Phúc S thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/12/2020 bị cáo được bạn Huỳnh Phúc S1 điện thoại rủ đến nhà trọ Hà Tiên 2 để sử dụng ma túy. Bị cáo S điều khiển xe môtô biển số 54M3-1725 đến nhà trọ Hà Tiên 2 gặp Phúc S1 thì Phúc S1 đưa cho bị cáo số tiền 300.000 đồng đi mua ma túy về sử dụng. Sau khi nhận tiền thì bị can S điều khiển xe môtô đến nhà của Huỳnh Hoàng N mua cho 01 (một) bịch ma túy đá với số tiền 200.000 đồng. Sau đó bị cáo S cầm trên tay trái điều khiển xe môtô về nhà trọ Hà Tiên 2, khoảng 22 giờ cùng ngày khi bị cáo vừa điều khiển xe môtô vào khu vực Nhà trọ thì lực lượng Công an huyện M kết hợp với Công an xã T2 phát hiện thu giữ 01 (một) bịch nylon có chứa chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng 0,1102 gam.
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Nguyễn Bình Phúc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Bình Phúc S tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với bản kết luận điều tra mà còn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Bình Phúc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với Huỳnh Phúc S1 và Huỳnh Hoàng N, quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra Công an huyện M, S1 và N không thừa nhận hành vi đưa tiền mua ma túy và bán ma túy của mình, nên không có cơ sở để xử lý.
Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy mà còn là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác. Như chúng ta đều biết, ma túy là chất hướng thần; người sử dụng sẽ bị kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, người sử dụng nhiều sẽ gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, dễ kích động thần kinh theo hướng tiêu cực, làm suy giảm khả năng lao động, dễ dẫn đến những tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật hoặc là một trong những nguyên nhân dân đến căn bệnh HIV. Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo lại mua ma túy một cách trái phép về trữ sẵn để sử dụng cho thấy ý thức coi thường pháp luật, nhất là trong tình hình tội phạm ma túy ngày càng gia tăng và cần được ngăn chặn kịp thời hiện nay. Vì thế, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Theo hồ sơ thể hiện ngày 07/11/2019, bị Công an xã T, huyện M ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng; ngày 25/02/2020 bị Công an xã T, huyện M ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày là đã chấp hành nộp phạt xong, nhưng không có chứng cứ chứng minh. Theo xác nhận của Công an xã T ngày 07/01/2021 và kết quả yêu cầu tra cứu trích sao về tiền án, tiền sự ngày 21/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M thì không xác định, nên không xem bị cáo có tiền sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân không tốt; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm 0,1102 gam, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bình Phúc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Phạt bị cáo Nguyễn Bình Phúc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06 tháng 5 năm 2021.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy, loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng là 0,1102 gam, (đã được niêm phong) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 3 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M với Chi cục thi hành án dân sự huyện M.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
Buộc bị cáo Nguyễn Bình Phúc S nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - Sở tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND Huyện; - Công an Huyện; - Phòng hồ sơ CAT; - UBND xã T; - Chi cục THADS Huyện; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Bùi Hồng Phúc |