vanban.org

Bản án 27/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 20/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Y T phạm tội “Đánh bạc”.

Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 ví da màu nâu hiệu LIVI’S, số tiền 11.000.000 đồng cho bị cáo Y T do không liên quan đến việc phạm tội. Các vật chứng có đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Y T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HSST
Ngày: 20/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cường và ông Nguyễn Duy Chấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2021/HSST, ngày 02/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo: Y T, sinh năm 1996, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Bon J, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: M’ Nông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Y B, sinh năm 1970; Con bà: H D, sinh năm 1972; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/4/2021, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Mil.

- Người làm chứng:

1. Anh Phan Nguyễn Anh K, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Bảo T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn Minh Đ, xã Đức M, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

3. Anh Trần Nguyễn Hải A, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

4. Anh Lê Nguyễn Trung N, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

5. Anh Hồ Trang L, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ dân phố 01, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

6. Chị Trần Thị Hải Y, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y T (sinh năm 1996, trú Bon Jun Juh, xã Đức Minh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông), Phan Nguyễn Anh K (sinh năm 1997, trú Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), Nguyễn Bảo T (sinh năm 1997, trú Thôn Minh Đ, xã Đức M, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), Trần Nguyễn Hải A (sinh năm 1997, trú tổ dân phố 2, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông), Lê Nguyễn Trung N (sinh năm 1996, trú Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông).

Khoảng 11h00’ ngày 04/02/2020, Y T, Nguyễn Bảo T, Trần Nguyễn Hải A, Lê Nguyễn Trung N cùng đến quán cà phê Giọt Đắng của Anh Hồ Trang L (sinh năm 1985) ở tổ dân phố 1, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông để uống cà phê. Trong lúc uống cà phê, Y T, Lê Nguyễn Trung N, Nguyễn Bảo T và Trần Nguyễn Hải A cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền (hình thức đánh bài Liêng) thì tất cả đều đồng ý.

Nguyễn Bảo T hỏi Chị Trần Thị Hải Y (sinh năm 2002, trú Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – là nhân viên phục vụ quán) mượn 01 bộ bài Tây tú lơ khơ 52 lá (khi hỏi mượn bộ bài thì Thuận không nói cho chị Y biết mục đích để đánh bạc) thì chị Y đưa cho Thuận mượn 01 bộ bài Tây tú lơ khơ 52 lá. Sau khi mượn được bộ bài Tây tú lơ khơ 52 lá, Y T, Nguyễn Bảo T, Trần Nguyễn Hải A, Lê Nguyễn Trung N tiến hành đánh bạc, đánh được khoảng hơn 10 phút thì có Phan Nguyễn Anh K đến và cùng tham gia đánh bạc với hình thức như sau: một người chơi dùng bộ bài Tây tú lơ khơ 52 lá chia cho mỗi người chơi 3 lá bài, số tiền sàn quy định trong mỗi ván chơi là 50.000 đồng, người chia bài sẽ là người cược tiền đầu tiên, quy định số tiền cược thấp nhất là 50.000 đồng và không giới hạn số tiền cược cao nhất. Sau khi mọi người đặt tiền cược người nào có 3 lá bài mang giá trị cao nhất sẽ là người thắng trong ván chơi đó hoặc nếu những người cùng tham gia đánh bạc không ai cược tiền thêm thì người cược tiền cuối cùng sẽ là người chiến thắng. Hình thức chơi Liêng được tính theo thứ tự từ lớn đến bé như sau:

Sáp: Là 3 lá bài giống nhau, như 3 lá 3 thì gọi là sáp 3. Nếu hai người cùng có sáp thì người nào có sáp cao hơn sẽ thắng. Thứ tự các lá bài từ bé đến lớn là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A.

Liêng: Là 3 lá bài liên tiếp nhau, như ba lá 3, 4, 5. Liêng cao nhất là Q, K, A và thấp nhất là A, 2, 3. Khi hai người chơi đều có liêng, thì ai có liêng cao hơn sẽ thắng. Nếu có hai liêng bằng nhau thì so sánh ai có lá bài có chất cao nhất sẽ thắng. Chất cao nhất trong bài liêng theo thứ tự là Rô, Cơ, Chuồn, Bích.

Ảnh: Khi cả 3 lá bài mà người chơi đang giữ đều là lá bài Tây (như lá bài J, Q, K) thì được gọi là Ảnh. Khi cả hai người chơi đều có ảnh thì bắt buộc so sánh đến chất cao nhất của bài. Nếu chất bằng nhau thì so sánh đến lá bài. Thứ tự từ thấp đến cao của các lá bài là J, Q, K.

Điểm: Khi bài của người chơi không có Sáp, Liêng, Ảnh thì bắt đầu tính điểm. Lấy tổng điểm của 3 lá bài chia cho 10, số dư sau khi chia sẽ là điểm của người chơi. Trong đánh bài liêng điểm sắp xếp từ cao xuống thấp 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, 0. Điểm của các lá bài được tính như sau: Các lá bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 được tính với số điểm tương ứng 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9. Lá bài A được tính 1 điểm, các lá bài 10, J, Q, K đều được tính 0 điểm. Khi hai người chơi bằng điểm thì so sánh lá bài có chất cao nhất. Nếu cùng chất thì so sánh lá bài. Lá bài từ thấp đến cao là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A. Người chơi nào thắng thì được chia bài ván tiếp theo, bài được chia theo vòng ngược lại ván bài vừa đánh xong.

Đến 12h05’ cùng ngày, khi Y T, Phan Nguyễn Anh K, Nguyễn Bảo T, Trần Nguyễn Hải A, Lê Nguyễn Trung N đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 6.450.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá (đã qua sử dụng). Quá trình bắt quả tang, Y T trốn thoát. Đến ngày 19/4/2021, Y T bị bắt theo lệnh truy nã của cơ quan điều tra.

Tại Bản cáo trạng số 29/CTr – VKS ngày 02 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố các bị cáo Y T về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Y T về tội “Đánh bạc”, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự tuyền phạt bị cáo Y T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 ví da màu nâu hiệu LIVI’S, số tiền 11.000.000 đồng cho bị cáo Y T do không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với số tiền 6.450.000 đồng; 01 bộ bài Tây tú lơ khơ; 02 điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu Iphone; 01 xe mô tô, loại xe Sirius màu đen trắng, biển kiểm soát 48E1- 085.42; 01 giấy chứng minh nhân dân số 245360613, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 48F1 – 033.49, 01 xe mô tô biển kiểm soát 48F1 – 033.49; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu vàng nhãn hiệu Iphone, 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu trắng nhãn hiệu Iphone; Số tiền 550.000 đồng thu giữ của Trần Nguyễn Hải A, số tiền 3.300.000 đồng thu giữ của Phan Nguyễn Anh K đã được xử lý bằng bản án số 19/2020/HSST, ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 023605 mang tên Nguyễn Đ, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số 2000230812 mang tên Nguyễn Đ, 01 giấy chứng minh nhân dân số 200131672 mang tên Nguyễn Đ (bản photo), cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đắk Mil tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hai hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của bị cáo gây ra, bị cáo khai nhận như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khoảng 11h00’ đến 12h05’ ngày 04/02/2020, tại quán cà phê Giọt Đắng của Anh Hồ Trang L ở tổ dân phố 1, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Lê Nguyễn Trung N, Phan Nguyễn Anh K, Nguyễn Bảo T, Trần Nguyễn Hải A và Y T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài liêng được thua bằng tiền với số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 6.450.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Bị cáo Y T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Điều 321 của bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. …”.

Đánh giá tính chất vụ án:

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi và xem thường pháp luật của Nhà nước nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài đánh bài liêng được thua bằng tiền với số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 6.450.000 đồng. Hành vi đánh bạc của bị cáo là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây ra các hậu quả nghiêm trọng khác, gây tác hại xấu cho xã hội về nhiều mặt. Vì vậy nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt đủ nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Sau khi thực hiện hành vi đánh bạc bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nghĩ cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

- Về nhân thân bị cáo: Ngày 29/01/2021, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước khởi tố về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh bị cáo không có tài sản riêng nào khác, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 ví da màu nâu hiệu LIVI’S, số tiền 11.000.000 đồng cho bị cáo Y T do không liên quan đến việc phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo Y T là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

- Đối với số tiền 6.450.000 đồng; 01 bộ bài Tây tú lơ khơ; 02 điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu Iphone; 01 xe mô tô, loại xe Sirius màu đen trắng, biển kiểm soát 48E1- 085.42; 01 giấy chứng minh nhân dân số 245360613, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 48F1 – 033.49, 01 xe mô tô biển kiểm soát 48F1 – 033.49; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu vàng nhãn hiệu Iphone, 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu trắng nhãn hiệu Iphone; Số tiền 550.000 đồng thu giữ của Trần Nguyễn Hải A, số tiền 3.300.000 đồng thu giữ của Phan Nguyễn Anh K đã được xử lý bằng bản án số 19/2020/HSST, ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:

- Đối với Lê Nguyễn Trung N, Phan Nguyễn Anh K, Nguyễn Bảo T, Trần Nguyễn Hải A đã bị xử lý theo bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HSST ngày 20/5/2020 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đối với Anh Hồ Trang L là chủ quán cà phê Giọt đắng và chị Trần Nữ Hải Y là nhân viêc phục vụ quán do không biết các Lê Nguyễn Trung N, Phan Nguyễn Anh K, Nguyễn Bảo T, Trần Nguyễn Hải A và Y T mượn bộ bài Tây tú lơ khơ 52 lá để sử dụng đánh bạc được thua bằng tiền tại quán cà phê do mình quản lý và phục vụ. Do đó, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 023605 mang tên Nguyễn Đ, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số 2000230812 mang tên Nguyễn Đ, 01 giấy chứng minh nhân dân số 200131672 mang tên Nguyễn Đ (bản photo), cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đắk Mil tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Y T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Y T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2021.

2. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 ví da màu nâu hiệu LIVI’S, số tiền 11.000.000 đồng cho bị cáo Y T do không liên quan đến việc phạm tội.

Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông ngày 06/7/2021; Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 09/7/2021).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ