vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 10/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn phạm các tội Tàng tr trái phép chất

ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy , Huỳnh Ngọc T, phạm tội tàng tr trái phép chất ma túy . 1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan trọng bảo toàn " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn phạm các tội Tàng tr trái phép chất
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày: 10 - 06 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sở

Bà Lê Thị Đông

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân

An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia

phiên tòa: bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh

Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Phan Trọng Bảo T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996, tại

Long An; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Cha ruột: Phan Trọng D ng; Sinh năm 1970 còn sống ; Mẹ ruột: Phạm Thị Phường; Sinh năm 1971 còn sống C 01 em ruột sinh năm 2005; Tiền án: 01; Ngày 19/7/2018, bị Tòa án nhân dân TP. Tân An, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản , chấp hành xong án phạt tù ngày 22/7/2020; Tiền sự: 01; Ngày 20/3/2018, bị Công an xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Nhân thân:

Ngày 03/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích , chấp hành án xong ngày 13/10/2014 phạm tội khi chưa thành niên và được x a án tích ; Phan Trọng Bảo T bị b t do phạm tội quả tang, tạm gi từ ngày 01/9/2020 đến ngày 07/9/2020 chuyển tạm giam cho đến nay.

2. Huỳnh Ngọc T; Tên gọi khác: Thái nh ; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1984, tại Long

An; Nơi đăng ký thường trú: số 182/10/3, đường H, Phường 2, Tp. T, tỉnh Long An; Nơi đã cư trú: số147/56A, đường N, Phường 3, Tp. T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Kỹ sư cơ khí đã nghỉ làm từ tháng 4/2020 ; Trình độ học vấn: 12/12; Trình độ chuyên môn: Đại học; Cha ruột: Huỳnh Ngọc Nhẫn; Sinh năm 1958 không rõ ; Mẹ ruột: Hồ Xuân Dung; Sinh năm 1961 còn sống ;

Có 02 anh ruột, lớn nhất sinh năm 1980, nh nhất sinh năm 1982; C vợ đã ly hôn năm 2014; C 01 con sinh năm 2011; Tiền án: 01; Ngày 21/8/2013, bị Tòa án nhân dân TP. Tân An, tỉnh Long An xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy , chấp hành xong án phạt tù ngày 04/10/2019; Tiền sự: 01; Ngày 18/5/2020, bị Công an Phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Huỳnh Ngọc T bị b t do phạm tội quả tang, tạm gi từ ngày 01/9/2020 đến ngày 07/9/2020 chuyển tạm giam cho đến nay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1998 v ng mặt

Địa chỉ: số 309, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.

Chị Huỳnh Thị Thanh H, sinh năm 1994 v ng mặt

Địa chỉ: số 147/56A, N, phường 3, thành phố T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được t m t t như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2020, Phan Trọng Bảo T h i mượn xe mô tô hiệu Winer,

màu vàng, không g n biển số của bạn tên Nguyễn Minh L, sinh năm 1998, thường trú số 309, ấp Thạnh Lợi, xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An để làm phương tiện đi lại thì được Luân đồng ý. Nhận được xe, Toàn đã g n biển số 59N3 – 257.27 do Nguyễn Thị Ngọc Ph, địa chỉ B10/293A, Ấp 2, Đa Phước, Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký chủ xe rồi dùng xe này làm phương tiện đi lại.

Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 01/9/2020, Phan Trọng Bảo T đến địa bàn

huyện Bến Lức gặp một người bạn không rõ nhân thân tên Lợi và được Lợi cho một g i ny lon màu tr ng trong suốt hàn kín hai đầu, kích thước 1,3cm x 02cm, bên trong chứa tinh thể màu tr ng là ma túy để mang về sử dụng. Do c sử dụng trái phép chất ma túy, Toàn nhận g i ny lon chứa ma túy này, b vào túi quần trước bên trái cất gi với mục đích để sử dụng.

Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, do c nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy,

Huỳnh Ngọc T, dùng điện thoại di động màu tr ng hiệu Coolpal, loại màn hình cảm ứng để liên hệ với một thanh niên chưa rõ nhân thân tên An mua ma túy đá với giá 2.000.000 đồng và được An hẹn khoảng 01 giờ sau Phan Trọng Bảo T sẽ mang ma túy đến giao. Xong, An gọi nhờ Phan Trọng Bảo T đến gặp một thanh niên không rõ nhân thân tên Phương để lấy ma túy và đem giao cho Thái giúp An. Do c quen biết với An và Huỳnh Ngọc T nên Phan Trọng Bảo T đồng ý. Khi nhận được tin nh n c số điện thoại của Phương từ An thì Toàn dùng điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, loại màn hình cảm ứng gọi điện cho Phương để h i về việc lấy ma túy. Khi được Phương hẹn gặp, Toàn điều khiển xe mô tô hiệu Winner, biển số 59N3 – 25727 đến đợi ở trước nhà nghỉ 88, tọa lạc Quốc lộ 1, Phường 5, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Lát sau, Phương đến và để lên mặt đồng hồ xe môtô 59N3 – 25727 một túi ny lon màu tr ng trong suốt, c rãnh khép, kích thước 07cm x 04cm, bên trong chứa tinh thể màu tr ng là ma túy rồi điều khiển xe chạy đi. Phan Trọng Bảo T biết túi ny lon mà Phương vừa đưa là ma túy thì cầm trên tay rồi điều khiển xe đến nơi Huỳnh Ngọc T đang ở tại địa chỉ số 147/56A, đường Nguyễn Thông, Phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An. Đến nơi, khi gặp Huỳnh Ngọc T mở cửa thì Phan Trọng Bảo T đưa cho Thái túi ny lon chứa ma túy mà Phương vừa đưa cho Toàn nêu trên. Nhận xong Thái h i Toàn tiền bạc tính sao thì Toàn kêu Thái liên lạc với An nên Thái cầm túi ny lon chứa ma túy đi vào nhà vệ sinh, dùng giấy xốp mềm màu tr ng loại giấy dùng lau miệng sau khi ăn quấn xung quanh túi ny lon chứa ma túy mà Toàn vừa đưa, rồi tiếp tục quấn xung quanh bên ngoài bằng băng keo màu vàng, sau đ b g i màu vàng chứa ma túy này vào túi quần trước bên phải rồi nhờ Toàn chở Thái đi gặp An c công việc. Toàn điều khiển xe môtô Winer, biển số 59N3 - 25727 chở Thái đến hẻm 154, đường Huỳnh H u Thống, Phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An, đến trước nhà số 154/1 thì đậu xe và ngồi đợi theo yêu cầu của Thái. Lúc này, Thái xuống xe, vừa lấy điện thoại gọi cho người bạn không rõ nhân thân tên Hùng với mục đích h i mượn tiền, vừa lấy g i màu vàng chứa ma túy đưa cho Toàn và kêu Toàn cầm dùm để Thái gọi điện thoại. Do Hùng không b t máy, Thái t t cuộc gọi rồi ngồi xuống nền bê tông là lối đi hẻm 154, sát vách tường rào nhà 154/1 và kêu Toàn đưa lại g i màu vàng chứa ma túy cho Thái. Sau khi nhận lại, do sợ cất ma túy trong người sẽ bị phát hiện b t gi nên Thái đặt g i này trên nền bê tông lối đi, vị trí sát vách tường rào cạnh trụ điện và cách chỗ Thái đang ngồi khoảng 01 mét. Xong, Thái định lấy điện thoại di động màu tr ng hiệu Coolpal, loại màn hình cảm ứng để liên lạc hẹn An ra th a thuận chuyện trả tiền mua ma túy thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Tân An kiểm tra, phát hiện và thu gi của Phan Trọng Bảo T: 305.000 đồng, 01 chiếc kéo kim loại màu tr ng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, loại màn hình cảm ứng và trong túi quần trước bên trái một g i ny lon màu tr ng trong suốt hàn kín hai đầu, kích thước 1,3cm x 02cm, bên trong chứa tinh thể màu tr ng là ma túy; của Huỳnh Ngọc T 01 điện thoại di động màu tr ng, hiệu Coolpal, loại màn hình cảm ứng và 01 điện thoại di động Iphone X, màu bạc; phát hiện và thu gi một g i màu vàng nghi c chứa ma túy tại vị trí gần trụ điện, sát vách tường rào nhà 154/1 và cách chỗ Thái ngồi khoảng 01 mét thì Huỳnh Ngọc T thừa nhận g i màu vàng nghi c chứa ma túy này là của mình và bên trong c túi ny lon chứa ma túy nên yêu cầu Thái mở g i màu vàng ra kiểm tra thì phát hiện c một g i ny lon màu tr ng trong suốt, c rãnh khép, kích thước 07cm x 04cm, bên trong c chứa tinh thể màu tr ng nghi là ma túy nên tiến hành niêm phong: g i ny lon thu gi trên người Toàn nêu trên ký hiệu M1 c ch ký của Phan Trọng Bảo T ; túi ny lon chứa tinh thể màu tr ng nằm bên trong g i băng keo màu vàng quấn xung quanh lớp giấy xốp mềm màu tr ng ký hiệu M2 c ch ký Huỳnh Ngọc T ; g i băng keo màu vàng quấn xung quanh lớp giấy xốp mềm màu tr ng ký hiệu M1 c ch ký của Huỳnh Ngọc T . Sau đ , tiến hành khám xét nơi ở của Huỳnh Ngọc T tại địa chỉ số 147/56A, đường Nguyễn Thông, Phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An thì phát hiện và thu gi 02 con dao tự chế bằng kim loại, trong đ 01 con dao dài 83cm, 01 con dao dài 62cm mà Thái cất giấu dùng để phòng thân; 01 cuộn băng keo tròn màu vàng và 01 sấp giấy màu tr ng, loại giấy chùi miệng đựng trong bọc nylon c ch SILKY LIVE mà Thái dùng để quấn bên ngoài g i nylon chứa ma túy Toàn giao cho Thái.

Tại Kết luận giám định số 854/2020/KLGĐ, ngày 04/9/2020 của Phòng Kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Long An kết luận:

+ Tinh thể màu tr ng ngà đựng trong 01 g i nylon hàn kín, được niêm phong, ký

hiệu M1 c ch ký của Phan Trọng Bảo T , gửi giám định là ma túy, c khối lượng: 0,1469 gam, loại Methamphetamine.

+ Tinh thể màu tr ng đựng trong 01 túi nylon c rãnh khép viền đ , được niêm

phong, ký hiệu M2 c ch ký của Huỳnh Ngọc T , gửi giám định là ma túy, c khối lượng: 4,2474 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định c khối lượng: 3,5972

gam Mẫu M2 .

Không hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu M1 phục vụ hết cho công tác giám

định.

Tại Kết luận giám định số 4623/C09B, ngày 16/10/2020 của Phân viện Kỹ thuật

hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: trên mẫu ký hiệu M1 lớp giấy xốp màu tr ng được quấn băng keo màu vàng bên ngoài, được niêm phong khi b t quả tang, c ch ký của Huỳnh Ngọc T c phát hiện tế bào người. Phân tích AND từ dấu vết này cho kiểu gen lẫn trong đ c kiểu gen của đối tượng Huỳnh Ngọc T. bút lục 101, 103 .

Việc thu gi đồ vật và xử lý vật chứng của vụ án:

01 g i nylon màu tr ng trong suốt c rãnh khép viền đ c kích thước 07cm x

04cm bên trong chứa tinh thể màu tr ng, được niêm phong, ký hiệu M2 c ch ký của Huỳnh Ngọc T), giám định là ma túy, c khối lượng 4,2474 gam, loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại 3,5972 gam, được g i niêm phong c ký hiệu Vụ số 854, c ch ký ghi họ tên Phạm Thị Thanh Tuyền người chứng kiến , Nguyễn Thanh Hòa người niêm phong và hình dấu tròn đ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An .

01 g i băng keo màu vàng c kích thước 4,7cm x 3,7cm, bên trong c quấn

xung quanh lớp giấy xốp mềm màu tr ng, ký hiệu M1 (c ch ký của Huỳnh Ngọc T). Sau giám định được hoàn lại là 01 g i dán kín, c niêm phong theo đúng quy định. Bên ngoài ghi mẫu băng keo màu vàng gửi giám định.

01 biển số 59N3-257.27 là biển số của xe mô tô của chị Nguyễn Thị Ngọc

Phượng nhưng hiện nay không rõ tung tích của chị Phượng.

01 cuộn băng keo tròn màu vàng và 01 sấp giấy màu tr ng, loại giấy chùi miệng

đựng trong bọc nylon c ch SILKY LIVE, còn lại sau khi Thái dùng để quấn quanh g i nylon chứa ma túy.

305.000đ và 01 chiếc kéo kim loại màu tr ng thuộc sở h u của Phan Trọng Bảo

T không dùng vào việc phạm tội;

01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh, loại màn hình cảm ứng thuộc sở h u của

Phan Trọng Bảo T dùng liên lạc để vận chuyển trái phép chất ma túy.

01 ĐTDĐ màu tr ng hiệu Coolpal, loại màn hình cảm ứng thuộc sở h u của

Huỳnh Ngọc T sử dụng để liên lạc mua trái phép chất ma túy.

01 ĐTDĐ Iphone X màu bạc chưa xác định của sở h u.

Đây là các vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự TP Tân An bảo

quản chờ xử lý theo quy định pháp luật.

01 g i nylon màu tr ng được hàn kín 02 đầu c kích thước 1,3cm x 02cm bên

trong chứa tinh thể màu tr ng, được niêm phong, ký hiệu M1 (có ch ký của Phan Trọng Bảo T), giám định là ma túy, c khối lượng 0,1469 gam, loại Methamphetamine, đã phục vụ hết cho công tác giám định.

01 xe mô tô hiệu Winer, màu vàng, không g n biển số mà Toàn dùng làm

phương tiện vận chuyển trái phép chất ma túy, thuộc chủ sở h u của Nguyễn Minh Luân nhưng Luân không biết Toàn sử dụng xe mô tô này để phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Tân An đã trả cho Luân.

02 con dao tự chế bằng kim loại: 01 con dao dài 83cm; 01 con dao dài 62cm, Cơ

quan Cảnh sát điều tra chuyển theo hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Ngọc T.

Đối với hành vi tàng tr 02 con dao tự chế bằng kim loại của Huỳnh Ngọc T, Cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Tân An đã đề nghị Chủ tịch UBND Tp. Tân An xử lý theo thẩm quyền.

Đối với Huỳnh Thị Thanh Hiền, sinh năm 1994, là bạn và cùng cư trú tại số

147/56A Nguyễn Thông, phường 3, TP.Tân An, tỉnh Long An với Huỳnh Ngọc T nhưng không biết về hành vi vi phạm pháp luật của Thái và Toàn nên không c căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của Hiền.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTA-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 của Viện

kiểm sát nhân dânThành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Trọng Bảo Toàn về các tội Tàng tr trái phép chất ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c Khoản 1 các Điều 249 và Điều 250 Bộ luật Hình sự; bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội Tàng tr trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã

hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Phan Trọng Bảo T, Huỳnh Ngọc T gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 ; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội tàng tr trái pháp chất ma túy và từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng về tội vận chuyển trái phép chất ma túy . Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai tôi từ 07 năm đến 08 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52, Điều 38, Điều 50, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 ; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng về tội tàng tr trái pháp chất ma túy .

Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung

năm 2017 ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Đề nghị Hội đồng xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn, Huỳnh Ngọc T, hoàn toàn thừa nhận

hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân

An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa,

người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng v ng mặt. Xét thấy người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng v ng mặt đã c lời khai trong quá trình điều tra và họ không c yêu cầu nào khác đối với bị cáo nên việc v ng mặt nh ng người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v ng mặt người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Về nội dung:

Hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời

khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nh ng người tham gia tố tụng khác c ng như nh ng tài liệu, chứng cứ c tại hồ sơ là phù hợp. Theo đ xác định được rằng Ngày 01/9/2020, với mục đích sử dụng, Phan Trọng Bảo T cất gi trong túi quần phía trước, bên trái ma túy, loại Methamphetamine, c khối lượng 0,1469 gam. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Trọng Bảo T nhận ma túy, c khối lượng 4,2474 gam, loại Methamphetamine, vận chuyển trái phép từ Phường 5, Tp. Tân An, tỉnh Long An đến nhà số 147/56A, đường Nguyễn Thông, Phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An đưa cho Huỳnh Ngọc T. Thái tự mình cất giấu 4,2474 gam ma túy này để sử dụng rồi Huỳnh Ngọc T và Phan Trọng Bảo T đi đến trước nhà số 154/1, đường Huỳnh H u Thống, Phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Tân An kiểm tra, phát hiện, b t quả tang Phan Trọng Bảo T và Huỳnh Ngọc T đều c hành vi tàng tr trái phép chất ma túy như đã nêu trên nên tiến hành lập biên bản, thu gi tang vật.

Như vậy hành vi của bị cáo Phan Trọng Bảo T đã phạm vào các tội Tàng tr

trái phép chất ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điểm c Khoản 1 các Điều 249 và điểm c khoản 1Điều 250 Bộ luật Hình sự. Huỳnh Ngọc T đã phạm vào tội Tàng tr trái phép chất ma túy quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Từ đ cho thấy bản cáo trạng số 15/CT-VKSTA-HS ngày 17 tháng 12 năm 2020

của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn, Huỳnh Ngọc T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc tàng tr ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn th a mãn nhu cầu của bản thân mà bất chấp pháp luật nên bị cáo vẫn vận chuyển và tàng tr ma túy để sử dụng. Khi thực hiện hành vi, bị cáo c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là sẽ gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đ nhưng vì muốn th a mãn nhu cầu của bản thân các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và để mặc cho hậu quả xảy ra. Do đ cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới c tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Huỳnh Ngọc T và Phan Trọng Bảo T đã bị

kết án, chưa được x a án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đ các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm kh c tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly kh i đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người c ích cho xã hội, đồng thời nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phan Trọng Bảo T, Huỳnh Ngọc T, đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 , nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo c xem xét giảm nhẹ một phần. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo tàng tr , vận chuyển ma túy nhằm mục đích để sử dụng, th a mãn nhu cầu bản thân, không nhằm mục đích thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng vụ án: + 01 g i nylon màu tr ng trong suốt c rãnh khép

viền đ c kích thước 07cm x 04cm bên trong chứa tinh thể màu tr ng, được niêm phong, ký hiệu M2 c ch ký của Huỳnh Ngọc T), giám định là ma túy, c khối lượng 4,2474 gam, loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại 3,5972 gam, được g i niêm phong c ký hiệu Vụ số 854, c ch ký ghi họ tên Phạm Thị Thanh Tuyền người chứng kiến , Nguyễn Thanh Hòa người niêm phong và hình dấu tròn đ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An . 01 g i băng keo màu vàng c kích thước 4,7cm x 3,7cm, bên trong c quấn xung quanh lớp giấy xốp mềm màu tr ng, ký hiệu M1 (có ch ký của Huỳnh Ngọc T . Sau giám định được hoàn lại là 01 g i dán kín, c niêm phong theo đúng quy định. Bên ngoài ghi mẫu băng keo màu vàng gửi giám định. 01 cuộn băng keo tròn màu vàng và 01 sấp giấy màu tr ng, loại giấy chùi miệng đựng trong bọc nylon c ch SILKY LIVE, còn lại sau khi Thái dùng để quấn quanh g i nylon chứa ma túy là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh, loại màn hình cảm ứng

thuộc sở h u của Phan Trọng Bảo T, 01 ĐTDĐ màu tr ng hiệu Coolpal, loại màn hình cảm ứng thuộc sở h u của Huỳnh Ngọc T các bị cáo sử dụng để liên lạc mua trái phép chất ma túy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với vật chứng là 01 biển số 59N3-257.27 là biển số của xe mô tô của chị

Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhưng hiện nay không rõ tung tích của chị Phượng.01 và một điện thoại di động Iphone X màu bạc chưa xác định của sở h u, cần giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An, Tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối cới các vật chứng là: 01 g i nylon màu tr ng được hàn kín 02 đầu c kích

thước 1,3cm x 02cm bên trong chứa tinh thể màu tr ng, được niêm phong, ký hiệu M1 c ch ký của Phan Trọng Bảo T), giám định là ma túy, c khối lượng 0,1469 gam, loại Methamphetamine, đã phục vụ hết cho công tác giám định. 01 xe mô tô hiệu Winer, màu vàng, không g n biển số mà Toàn dùng làm phương tiện vận chuyển trái phép chất ma túy, thuộc chủ sở h u của Nguyễn Minh Luân nhưng Luân không biết Toàn sử dụng xe mô tô này để phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An đã trả cho Luân là phù hợp nên không đề cập.

Đối với 02 con dao tự chế bằng kim loại: 01 con dao dài 83cm; 01 con dao dài

62cm, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển theo hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Ngọc T.

Số tiền 305.000đ và 01 chiếc kéo kim loại màu tr ng thuộc sở h u của Phan

Trọng Bảo T không dùng vào việc phạm tội; không liên quan tới vụ án cần trả lại cho bị cáo.

Đối với nguồn gốc ma túy: Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo khai các đối tượng tên An, Phương, Lợi nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, nên không c căn cứ xác định c hay không hành vi phạm tội của các đối tượng này như lời khai của Huỳnh Ngọc T và Phan Trọng Bảo T, do chưa xác định rõ họ tên cụ thể, nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Tân An tiếp tục xác minh làm rõ là c căn cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn phạm các tội Tàng tr trái phép chất

ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy , Huỳnh Ngọc T, phạm tội tàng tr trái phép chất ma túy .

2.1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phan Trọng Bảo T. 01 một năm 06 (sáu) tháng tù về tội tàng

tr trái phép chất ma túy.

2.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn, 05 năm tù về tội vận chuyển trái phép

chất ma túy

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Trọng

Bảo T chấp hành chung cho hai tội là 06 năm 06 tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/9/2020.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T . 05 năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được

tính từ ngày 01/9/2020.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm

giam bị cáo PhanTrọng Bảo Toàn, Huỳnh Ngọc T 45 bốn mươi lăm ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2021 để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

5. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình

sự.

Tịch thu và tiêu hủy: + 01 g i niêm phong chứa 3,5972 gam ma túy còn lại sau

giám định c ký hiệu vụ số 854, c ch ký ghi họ tên Phạm Thị Thanh Tuyền người chứng kiến , Nguyễn Thanh Hòa người niêm phong và hình dấu tròn đ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An ; 01 g i dán kín c niêm phong theo đúng quy. Bên ngoài ghi mẫu băng keo màu vàng gửi giám định; + 01 cuộn băng keo tròn màu vàng và 01 sấp giấy màu tr ng, loại giấy chùi miệng đựng trong bọc nylon c ch SILKY LIVE;

Tịc thu sung vao ngân sách nhà nước: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh, loại

màn hình cảm ứng thuộc sở h u của Phan Trọng Bảo T; 01 ĐTDĐ màu tr ng hiệu Coolpal, loại màn hình cảm ứng thuộc sở h u của Huỳnh Ngọc T.

Trả lại cho bị cáo Phan Trong bảo Toàn: số tiền 305.000đ theo biên lai số

0002344 ngày 24/02/2021 của chi cục thi hành án dân sự Thành phố Tân An và 01 chiếc kéo kim loại màu tr ng.

Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công An thành phố tân An tiếp tục điều tra và

xử lý theo quy định đối với: 01 ĐTDĐ Iphone X màu bạc; 01 biển số 59N3-257.27 là biển số của xe mô tô của chị Nguyễn Thị Ngọc Phượng.

Tất cả tang vật do chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân An quản lý Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/02/2020 gi a cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Tân An với Chi cục thi hành án dân sự thành thành phố Tân An.

6. Căn cứ Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và

Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phan Trọng Bảo T, Huỳnh Ngọc T phải chịu 200.000 hai trăm

nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo c mặt tại phiên Tòa c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ