- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CL TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày: 23-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CL, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hải.
2. Ông Nguyễn Văn Vệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2021/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: S, sinh năm 1999, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: T A, Khóm B, Phư ng C, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông LS và bà C; Chưa có v , con; Tiền sự: Không, Tiền án: Ngày 04/5/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm t về tội Tàng tr trái ph p ch t ma t y , chấp hành xong ngày 06/8/2020; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 gi 45 phút, ngày 22/10/2020 tại đoạn đư ng Ph, thuộc khóm MT, phư ng M P, thành phố CL, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Đồng Tháp phối h p c ng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an thành phố CL và Công an phư ng MP tiến hành kiểm tra phát hiện, bắt quả tang S đang tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ tang v t, gồm:
- Trên nền đất gần nơi S đang đứng 01 khẩu trang y tế màu xanh-trắng đ qua sử dụng , bên trong khẩu trang có 01 bịch nylon màu trắng, hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, đư c niêm phong trong phong bì màu trắng, có đóng hình dấu tròn màu đỏ ghi C ng an ph ng M -C ng an thành ph C và các chữ ký ghi họ tên Đội trưởng Đội 2 – PC04 ông Ng, ngư i chứng kiến ông H và ngư i bị bắt S.
- 01 điện thoại di động, nh n hiệu OPPO, màu vàng đồng đ qua sử dụng, bị v màn hình; 01 điện thoại di động, nh n hiệu Samsung, màu xanh đ qua sử dụng, bị v kính màn hình; 01 điện thoại di động, nh n hiệu Nokia, màu xám đ qua sử dụng;
- 01 khẩu trang y tế màu xanh-trắng đ qua sử dụng; 01 cây kéo b ng kim loại, màu trắng; 01 b t lửa gas; 1.090.000 đồng; 01 xe mô tô, nh n hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đ qua sử dụng, biển kiểm soát 66P2-104.91.
Tại bản kết lu n giám định số 988/KL-KTHS ngày 25/10/2020 của Phòng K thu t hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp đ kết lu n: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, đư c niêm phong trong phong bì nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lư ng 0,195 gam, loại Methamphetamine niêm phong 0,131 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu số 1007 ngày 22/10/2020 và hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố CL xử lý .
Kết quả xác định tình trạng nghiện: Xác định S có nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Biên bản kiểm tra điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nh n hiệu Nokia, màu xám, S thừa nh n sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma túy; 01 điện thoại di động, nh n hiệu OPPO, màu vàng đồng và 01 điện thoại di động, nh n hiệu Samsung, màu xanh: qua kiểm tra không phát hiện thông tin liên quan đến hoạt động phạm tội.
Cơ quan điều tra đ trả lại cho T 01 xe mô tô, nh n hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 66P2-104.91 và 01 điện thoại di động, nh n hiệu Samsung, màu xanh đ qua sử dụng, bị v kính màn hình.
Cơ quan điều tra đ trả lại cho S 01 điện thoại di động, nh n hiệu OPPO, màu vàng đồng đ qua sử dụng, bị v màn hình và 1.090.000 đồng.
Tại biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang và trong quá trình điều tra S khai nh n: Vào khoảng 08 gi ngày 22/10/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên S d ng điện thoại hiệu Nokia, màu xám gọi cho một thanh niên không r họ, tên, địa chỉ hỏi mua ma túy đá thì đư c thanh niên này đồng ý bán, địa điểm giao dịch là khu vực C, thuộc x B, huyện CL, S một mình đến địa điểm đ h n và mua của ngư i thanh niên này một bịch ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau khi mua đư c ma túy S cất giấu trong ngư i rồi quay về Nhà trọ HG thuộc Phư ng D, thành phố CL nơi S đang thuê trọ để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì có việc cá nhân nên S nh T, sinh năm 1998, ngụ Phư ng M, thành phố CL là bạn của S chở S đi công việc nên T không biết S Tàng tr trái ph p ch t ma t y trong ngư i. T sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 66P2-104.91 đến chở S đi, lúc này S cầm theo bịch ma túy vừa mua đư c và mư n 01 khẩu trang y tế của T để quấn bịch ma túy lại rồi cầm trên tay. Khi cả hai đang lưu thông trên đư ng Ph, thuộc khóm MT, phư ng M P, thành phố CL thì bị lực lư ng Công an kiểm tra, nhìn thấy lực lư ng Công an nên S xuống xe bỏ chạy, ném ma túy xuống đất nhưng bị phát hiện và bị bắt c ng tang v t, ph h p với kết lu n giám định của Phòng k thu t hình sự, biên bản xác định tình trạng nghiện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 21/CT-VKS-TPCL, ngày 04 tháng 02 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL truy tố bị cáo S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố CL giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy .
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ lu t hình sự.
Xử phạt bị cáo S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng t .
Bị cáo không có nghề nghiệp, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên không phạt b sung b ng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý v t chứng như cáo trạng đ nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện là h p pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. L i khai của bị cáo tại phiên tòa ph h p với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, v t chứng thu giữ, kết lu n giám định và ph h p với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Lúc 10 gi 45 phút ngày 22/10/2020, tại đoạn đư ng Ph, thuộc khóm MT, phư ng M P, thành phố CL, S đang tàng trữ trái phép 0,195 gam ma túy loại Methamphetamine trong ngư i, chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện l p biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang c ng tang v t.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đ truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh lu n, thừa nh n l i lu n tội của Kiểm sát viên là đúng ngư i, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo là ngư i đ thành niên, đủ tu i, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có hành vi tàng trữ 0,195 gam ma túy loại Methamphetamine, bị cáo nh n thức đư c hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp lu t nhưng vẫn cố ý thực hiện và đ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy.
Trong phần tranh lu n tại phiên tòa, l i lu n tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho r ng bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp đ truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết lu n bị cáo đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt đư c quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t hình sự.
Tại Điều 249 của Bộ lu t Hình sự quy định:
1. Ng i nào tàng tr trái ph p ch t ma t y mà kh ng nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xu t trái ph p ch t ma t y thuộc một trong các tr ng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc A R-11 có kh i l ợng từ 0,1 gam đến d ới 05 gam;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, không những đ xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình tr t tự trị an ở địa phương, đặc biệt là gia đình của bị cáo, vì ngư i nghiện ma tuý chỉ biết sử dụng ma túy để thỏa m n cho bản thân, không chăm sóc cho gia đình, đây là vấn đề mà x hội đang lên án và cần loại trừ. Việc đưa bị cáo ra xét tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống x hội một th i gian nhất định, nh m cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và x hội, đồng th i có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nh đư c quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đ bị kết án chưa đư c xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trư ng h p tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.
Về v t chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ lu t hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy những v t cấm, sử dụng vào việc phạm tội, gồm: 0,131 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu số 1007 ngày 22/10/2020; 01 khẩu trang y tế màu xanh-trắng; 01 cây kéo b ng kim loại, màu trắng; 01 b t lửa gas đ qua sử dụng .
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nh n hiệu Nokia, màu xám đ qua sử dụng của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Ngày 12/01/2021 Cơ quan điều tra đ trả lại cho T 01 xe mô tô, nh n hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 66P2-104.91 và 01 điện thoại di động, nh n hiệu Samsung, màu xanh đ qua sử dụng, bị v kính màn hình do không liên quan đến việc phạm tội là ph h p.
- Ngày 11/01/2021 Cơ quan điều tra đ trả lại cho S 01 điện thoại di động, nh n hiệu OPPO, màu vàng đồng đ qua sử dụng, bị v màn hình và 1.090.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội là ph h p.
Về hình phạt b sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nh p không n định nên không áp dụng hình phạt b sung b ng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ lu t hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ lu t tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo đư c quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ lu t tố tụng hình sự.
Về các vấn đề khác:
Đối với T là ngư i đi c ng với bị cáo nhưng không biết S tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự là ph h p.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra T thừa nh n có sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine nên Cơ quan điều tra đ có Công văn chuyển hồ sơ đến Công an nơi cư trú của T để xử lý theo quy định của pháp lu t là ph h p.
Đối với thanh niên mà S đ liên lạc mua ma túy, không r nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm r s xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ lu t hình sự.
Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy .
Xử phạt bị cáo S 02 hai năm t . Th i hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
- Về v t chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ lu t hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,131 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu số 1007, ngày 22/10/2020; 01 khẩu trang y tế màu xanh-trắng đ qua sử dụng ; 01 cây kéo b ng kim loại màu trắng đ qua sử dụng ; 01 b t lửa sử dụng gas đ qua sử dụng .
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nh n hiệu Nokia, màu xám đ qua sử dụng.
(Hiện v t chứng đang đư c Chi cục thi hành án dân sự thành phố CL đang tạm quản lý theo biên bản giao nh n v t chứng ngày 18/02/2021).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ lu t tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL; - VKDND tỉnh Đồng Tháp; - CQĐT Công an TPCL; - CQTH HS Công an TPCL; - Bộ ph n hồ sơ nghiệp vụ; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Phú Thọ |