vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 20/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo: Trần Văn D 01 (m t) năm 03 (ba) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng h nh sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày: 20/4/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Tr nh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hổ;

2. Ông Trần Văn Hưng.

- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Lê An Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án h nh sự sơ thẩm thụ lý số 21/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1996 tại tỉnh Ninh B nh; Nơi đăng ký h khẩu thư ng tr : Xóm F, xã AH, huyện KS, tỉnh Ninh B nh; Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ khu phố BK, Phư ng F, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tr nh đ học vấn: 06/12; Dân t c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Ch a; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày 26/01/2021 cho đến nay. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần Văn N1, sinh năm 1997;

Nơi đăng ký h khẩu thư ng tr : Xóm F, xã SH, huyện KS, tỉnh Ninh B nh;

Chỗ ở hiện nay: Nhà cho thuê ấp C, xã PN, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

* Người chứng kiến:

- Nguyễn Thị T, sinh năm 1968;

Nơi cư tr : Khu phố C, phư ng PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

- Trần Văn T1, sinh năm 1960;

Nơi cư tr : Khu phố C, phư ng PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 gi ngày 28/8/2020, lực lượng Công an tỉnh Bến Tre tiến hành tuần tra trên đư ng Nguyễn Thị Định. Khi đến đoạn thu c khu phố 3, phư ng Ph Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre th phát hiện Trần Văn N1 đang điều khiển xe mô tô biển số 61B2-081.26 chở sau bị cáo Trần Văn D1 và có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện bị cáo D1 có cất giấu trong t i quần đang mặc 01 gói nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ, h nh chữ nhật nghi là ma t y nên tiến hành thu giữ tang vật, lập biên bản vụ việc và thông báo cho lực lượng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma t y Công an thành phố Bến Tre đến tiếp nhận để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 01 t i nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ, h nh chữ nhật nghi là ma t y (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong b có chữ ký và ghi tên Phan Nghĩa Thạnh, Nguyễn Thị T, Trần Văn T1, Trần Văn N1, Trần Văn D1, Đặng Văn Hưởng, Võ Huỳnh Ph c và h nh dấu tròn màu đỏ của Công an phư ng Ph Khương, thành phố Bến Tre);

- 01 điện thoại di đ ng, nhãn hiệu Iphone, màu vàng;

- 01 cục sạc điện thoại di đ ng;

- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn D;

- Tiền Việt Nam 6.000.000 đồng;

Qua làm việc bị cáo D khai nhận: 02 viên nén màu đỏ trong t i nylon mà lực lượng Công an thu giữ là ma t y loại thuốc lắc của bị cáo không có liên quan g đến Trần Văn N1. Bị cáo có được là do m t ngư i bạn (không rõ họ, tên và địa chỉ) cho vào khoảng tháng 7/2020 tại m t quán Karake thu c quận Tân B nh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi có được 02 viên thuốc lắc, bị cáo mang về nhà thuê ở số 291C, ấp 3, xã Ph Nhuận, thành phố Bến Tre cất giấu. Đến ngày 28/8/2020, bị cáo đi chơi và mang theo 02 viên thuốc lắc để sử dụng th bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ như trên.

Trần Văn N1 cũng khai nhận không có liên quan g đến 02 viên thuốc lắc mà lực lượng Công an thu giữ của bị cáo D nhưng tự khai nhận bản thân có cất giấu 01 viên thuốc lắc tại nhà thuê ở số 291C, ấp 3, xã Ph Nhuận, thành phố Bến Tre nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đưa Trần Văn N1 về nhà lấy giao n p.

Vật chứng thu giữ: 01 viên nén màu đỏ có logo h nh vương miệng được gói trong gói giấy màu trắng (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong b ký hiệu 1 có chữ ký và ghi tên Trần Văn D, Trần Văn N1, Lê Văn Trai, Phan Nghĩa Thạnh, Võ Huỳnh Ph c, Nguyễn Thanh Nhân và h nh dấu tròn màu đỏ của Công an xã Ph Nhuận, thành phố Bến Tre);

Theo kết luận giám định số 92/2020/GĐMT ngày 03/9/2020 của Phòng kỹ thuật h nh sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

- 02 viên nén màu đỏ, h nh chữ nhật đựng trong 01 t i nylon được niêm phong trong phong b gửi giám định là ma t y, loại MDMA, khối lượng 0,7436 gam;

- 01 viên nén màu đỏ có logo h nh vương miệng được niêm phong trong phong b ký hiệu 1 gửi giám định là ma t y, loại MDMA, khối lượng 0,3482 gam.

Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKSTPBT ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo D về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật H nh sự.

Tại phiên toà:

Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên n i dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

- Về t i danh và h nh phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 B luật H nh sự: xử phạt bị cáo D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.

- Về h nh phạt bổ sung: Không áp dụng do bị cáo không có thu nhập ổn định.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 B luật h nh sự; Điều 106 B luật tố tụng h nh sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy chất ma t y còn lại sau giám định được niêm phong trong phong b ký hiệu 92/2020 có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Phan Nghĩa Thạnh, Nguyễn Ngọc Minh và h nh dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật h nh sự Công an tỉnh Bến Tre, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành.

+ Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di đ ng, nhãn hiệu Iphone, màu vàng; 01 cục sạc điện thoại di đ ng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn D, do không liên quan đến vụ án.

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng thu của bị cáo D để đảm bảo thi hành án. Sau khi thi hành án xong, số tiền còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo D.

- Đối với đối tượng cho bị cáo D ma t y do không rõ họ, tên và địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

- Đối với Trần Văn N1: Quá tr nh điều tra đã xác định N1 và Trần Văn D không đồng phạm với nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã tiến hành khởi tố vụ án h nh sự về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y” xảy ra ở Ph Nhuận, thành phố Bến Tre và tách vật chứng liên quan đến N1 để xử lý riêng theo quy định.

Bị cáo D khai nhận 02 viên nén màu đỏ trong t i nylon mà lực lượng Công an thu giữ là ma t y loại thuốc lắc của bị cáo, bị cáo có được là do m t ngư i bạn (không rõ họ, tên và địa chỉ) cho vào khoảng tháng 7/2020 tại m t quán Karake thu c quận Tân B nh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi có được 02 viên thuốc lắc, bị cáo mang về nhà thuê ở số 291C, ấp 3, xã Ph Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cất giấu. Đến ngày 28/8/2020, bị cáo đi chơi và mang theo 02 viên thuốc lắc để sử dụng th bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật như trên. Việc bị cáo mang theo ma t y và cất giữ, N1 hoàn toàn không biết v bị cáo giấu N1. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định, không khiếu nại g đối với các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và xin giảm nhẹ h nh phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên sơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những ngư i chứng kiến, bị cáo D không có ý kiến, Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt ngư i này. Xét thấy việc vắng mặt của ngư i này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ngư i này là phù hợp theo quy định tại Điều 292, Điều 293 B luật tố tụng h nh sự.

Bị cáo D có l i khai tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc, kết quả giám định, biên bản thực nghiệm điều tra, l i khai của những ngư i tham gia tố tụng và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá tr nh điều tra, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 22 gi ngày 28/8/2020, trên đư ng Nguyễn Thị Định đoạn thu c khu phố 3, phư ng Ph Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, bị cáo D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,7436 gam ma t y, loại MDMA để sử dụng th bị lực lượng Công an phát hiện.

Bị cáo D là ngư i có đủ năng lực nhận biết việc cất giấu ma t y là bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cất giấu ma t y để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo D về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật H nh sự là có căn cứ, đ ng luật định.

Hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma t y, gây tác đ ng xấu đến t nh h nh an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện t i phạm, là nguyên nhân phát sinh các t i phạm và các tệ nạn xã h i khác, gây tâm lý bất an trong quần ch ng nhân dân.

Xét về nhân thân và các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:

Về nhân thân, bị cáo D chưa có tiền án, tiền sự.

Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, bị cáo D được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật H nh sự.

Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự, bị cáo D không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức đ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã h i và có tác dụng phòng ngừa chung.

H nh phạt bổ sung: Do bị cáo D không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng h nh phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy chất ma t y còn lại sau giám định được niêm phong trong phong b ký hiệu 92/2020 có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Phan Nghĩa Thạnh, Nguyễn Ngọc Minh và h nh dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật h nh sự Công an tỉnh Bến Tre, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành.

- Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di đ ng, nhãn hiệu Iphone, màu vàng; 01 cục sạc điện thoại di đ ng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn D, do không liên quan đến vụ án.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng thu của bị cáo D để đảm bảo thi hành án. Sau khi thi hành án xong, số tiền còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo D.

Đối với đối tượng cho bị cáo D ma t y do không rõ họ, tên và địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Hành vi của Trần Văn N1 không đồng phạm với bị cáo D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã khởi tố vụ án h nh sự ở vụ án khác nên không đề cập xử lý chung với bị cáo D trong vụ án này.

L i phát biểu luận t i của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về t i danh; điều luật áp dụng; các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự và h nh phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên được H i đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí h nh sự sơ thẩm, bị cáo D phải n p theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 B luật H nh sự:

Xử phạt bị cáo: Trần Văn D 01 (m t) năm 03 (ba) tháng tù.

Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 B luật h nh sự, Điều 106 B luật tố tụng h nh sự:

- Tịch thu, tiêu hủy chất ma t y còn lại sau giám định được niêm phong trong phong b ký hiệu 92/2020 có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Phan Nghĩa Thạnh, Nguyễn Ngọc Minh và h nh dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật h nh sự Công an tỉnh Bến Tre.

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn D 01 (m t) điện thoại di đ ng, nhãn hiệu Iphone, màu vàng; 01 (m t) cục sạc điện thoại di đ ng; 01 (m t) giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn D.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng thu của bị cáo Trần Văn D để đảm bảo thi hành án. Sau khi thi hành án xong, số tiền còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo Trần Văn D.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2021, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 B luật Tố tụng h nh sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án:

Án phí h nh sự sơ thẩm bị cáo Trần Văn D phải n p là 200.000 (Hai trăm ngh n) đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn (15) mư i lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 (mươi lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ

Cỡ chữ