- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T (tên gọi khác: Bùi Văn T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày: 12/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị Thương
2. Bà Phạm Thị Sinh
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 3 năm 2021, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2021/HSST, ngày 25 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Bùi Văn T (tên gọi khác: Bùi Văn T1) sinh ngày 08/11/1958; Nơi ĐKNKTT: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn (thuê trọ tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn nhưng không đăng ký tạm trú); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Viết T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 03 con; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án. Ngày 25/6/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và ngày 22/8/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn), tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2020 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 00 phút, ngày 16/12/2020 tại khu vực Tổ C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Bùi Văn T (tên gọi khác Bùi Văn T1) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ tại túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Bùi Văn T có 03 (ba) gói nhỏ đều được gói bằng nilon màu hồng bên trong đều được gói bằng giấy viết có dòng kẻ, tiếp theo là gói bằng giấy ghi xổ số bên trong đều có chứa chất bột màu trắng là ma tuý (Heroine), qua cân xác định tổng khối lượng là 0,14g (không phẩy mười bốn gam), tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đã qua sử dụng, 01 (một) ví giả da màu nâu đã qua sử dụng, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng xanh, biển kiểm soát 97F7 - 45… đã qua sử dụng và số tiền 830.000đ (tám trăm ba mươi nghìn đồng). Sau đó Bùi Văn T đã bị đưa về trụ sở Công an phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn T tại nhà trọ ở Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra Bùi Văn T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị thu giữ trong quá trình bắt quả tang là ma tuý, loại Heroine, Bùi Văn T tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc 04 (bốn) gói ma tuý (Heroine) do Bùi Văn T mua tại khu vực Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn thuộc Tổ B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với một người đàn ông không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/12/2020. Sau khi mua được ma tuý Bùi Văn T về phòng trọ tại Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; tại phòng trọ T đã sử dụng hết 01 (một) gói ma tuý bằng hình thức hít, còn lại 03 (ba) gói ma tuý T cất giấu trong phòng. Ngày 16/12/2020, T để 03 (ba) gói ma tuý bên trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người để đi làm khi lên cơn thèm ma tuý sẽ sử dụng. Khoảng hơn 13 giờ ngày 16/12/2020, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F7-45… đi đến khu vực Tổ C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để đón khách đi xe ôm thì bị Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và tạm giữ các đồ vật liên quan.
Tại Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,14g (không phẩy mười bốn gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu A còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T13 hoàn trả lại.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSNDTP ngày 23/02/2021 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Bùi Văn T (Bùi Văn T1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
*Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T (Bùi Văn T1) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T (Bùi Văn T1) từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù; Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu T13; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu A1.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu xanh có bàn phím nhựa, đã qua sử dụng; 01 (một) ví giả da màu nâu.
- Tạm giữ để thi hành án cho bị cáo số tiền: 830.000đ (tám trăm ba mươi nghìn đồng).
*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/12/2020, tại khu vực Tổ C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Bùi Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,14g (không phẩy mười bốn gam) ma túy, loại Heroine, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngày 22/8/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn) xử phạt 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 điều 194 BLHS năm 1999 (phạm tội nhiều lần và tái phạm nguy hiểm). Ngày 4/9/2019, Bùi Văn T chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của Bùi Văn T (Bùi Văn T1) đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm:
…..
c, Hêrôin,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm:
…..
o) Tái phạm nguy hiểm;
…..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Cáo trạng số 09/CT-VKSNDTP ngày 23/02/2021 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo; Bị cáo có bố, mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng vì tiền án của bị cáo đã là yếu tố định khung hình phạt. Xét bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2020, nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xác minh.
Về vật chứng trong vụ án:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng xanh BKS 97F7- 45… đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Bùi Viết V là con trai của bị cáo. Hàng ngày anh V cho bị cáo mượn xe mô tô để làm nghề xe ôm, ngày 16/12/2020, bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy về sử dụng anh V không biết. Ngày 25/01/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Vinh là có căn cứ.
- 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu T13; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu A1. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu xanh có bàn phím nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) ví giả da màu nâu là của bị cáo không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 830.000đ (tám trăm ba mươi nghìn đồng) là của bị cáo không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T (tên gọi khác: Bùi Văn T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 + khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Bùi Văn T (tên gọi khác: Bùi Văn T1) 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/12/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu T13; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu A1.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu xanh có bàn phím nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) ví giả da màu nâu.
- Trả lại cho bị cáo số tiền: 830.000đ (tám trăm ba mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/3/2021, giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Bùi Văn T (tên gọi khác: Bùi Văn T1) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b); - Công an thành phố Bắc Kạn (02b); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn (Khi án có hiệu lực - 01b); - Sở Tư pháp; - Người tham gia tố tụng (01b); - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tư |