vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 31/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Tr 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (06/5/2021). Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trường Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày 31-8-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồng Quang Minh;

2. Ông Lý Xuân Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại Hội Trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:

Võ Văn Tr, sinh ngày 10/12/1989; sinh, trú quán: Thôn Thuận An, xã D Ng, huyện D X, tỉnh Q N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Th, sinh năm 1960 và bà Võ Thị N, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Trương Thị Kiều Ph, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/5/2021, chuyển tạm giam ngày 12/5/2021, hiện đang tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Mậu D, sinh năm 1977; trú tại: Thôn Nước Xuyên, xã B V, huyện B T, tỉnh Q N; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Ngọc Ch, sinh năm 1982; trú tại: Thôn Tây Sơn Tây, xã D H, huyện D X, tỉnh Q N; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Thành D1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Tây Sơn Đông, xã D H, huyện D X, tỉnh Q N; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn D1 Th1, sinh năm 1979; trú tại: Thôn Tây Sơn Đông, xã D H, huyện D X, tỉnh Q N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 05/5/2021, Tổ công tác Công an thị trấn Hương An phối hợp với Công an huyện Quế Sơn tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng Vip 3, tầng 3 quán karaoke New World (thuộc tổ dân phố Hương An, thị trấn Hương an, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) phát hiện: Nguyễn Ngọc Ch, Võ Văn Tr, Nguyễn Thành D1 và Nguyễn D1 Th1 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản vụ việc nêu trên và tạm giữ: 01 đĩa sứ màu trắng có chứa chất rắn dạng bột màu trắng, 01 gói ni lông bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và một gói nilông bên trong có chứa 8 viên nén màu nâu và một số đồ vật có liên quan; thử nhanh nước tiểu đối với Tr, D1, Th1, Ch kết quả đều âm tính với ma túy.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thành D1 cùng Nguyễn D1 Th1, Nguyễn Ngọc Ch rủ nhau đi hát karaoke, tổ chức sinh nhật D1. D1 điện thoại rủ bị cáo Tr đến quán karaoke New World để hát karaoke, dự sinh nhật D1. Nhận lời mời của D1, bị cáo Tr thuê xe taxi đến quán karaoke Blue (thuộc thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) gặp một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma túy với mục đích để sử dụng. Người thanh niên này hướng dẫn bị cáo Tr đến trước sân bóng Chợ Chùa thuộc thị trấn Nam Phước, huyện D1 Xuyên để mua, bị cáo Tr đến địa điểm trên thì gặp một người thành niên khác, người này thống nhất bán ma túy cho bị cáo với số tiền 7.000.000 đồng. Bị cáo Tr đồng ý và đưa 7.000.000 đồng, người này đưa cho bị cáo 02 gói ma túy được bọc trong túi ni lông (01 túi ni lông đựng ma túy dạng tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông chứa 08 viên ma túy dạng viên ném màu xám). Sau khi lấy ma túy xong, bị cáo Tr đến quán karaoke New World rồi vào phòng Vip 3. Tại đây, bị cáo Tr để 02 gói ma túy vừa mua được trên bàn, sau đó lấy một gói ma túy dạng tinh thể đổ ra đĩa sứ màu trắng một ít để chuẩn bị sử dụng, còn lại một ít trong gói ni lông bị cáo để trên bàn. Sau đó bị cáo Tr dùng thẻ sim “xào” ma túy và dùng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn thành ống hút rồi dùng giấy vàng đầu lọc thuốc lá dán lại để trên bàn. Một lúc sau có D1, Thanh và Chín đến quán được nhân viên chỉ lên phòng Vip 3. Khi vào Phòng Chín mở hộp bánh kem ra chuẩn bị thắp nến thì Tổ công tác đến kiểm tra. Thấy Tổ công đi vào phòng, bị cáo Tr lấy đĩa sứ chứa ma túy dạng tinh thể để dưới chân ghế và dùng tay hất 02 gói ma túy trên bàn xuống sàn nhà nhưng bị Tổ công tác phát hiện và thu giữ.

Tại Bản Kết luận giám định số 558/C09C-Đ2 ngày 12/5/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:

"- Chất rắn màu trắng dạng bột gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng 1,32 gam;

- Chất rắn màu trắng dạng tinh thể nêu ở mục 1.2 gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng 0,88 gam;

- 08 (tám) viên nén màu xám nêu ở mục 1.3 gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; tổng khối lượng mẫu là 4,03 gam".

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 35487607942980, bên trong có chứa sim thuê bao 0768444478; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu xanh bên trong có sim thuê bao số 0768444418; 01 chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn Tr; 01 cái đĩa sứ màu trắng; 01 túi niêm phong có mã số PS3 2022063, bên trong có: 01 ống hút bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng, trên ống hút có quấn 03 miếng giấy màu vàng và 01 thẻ chứa sim có mã số 8984048000036304678; 01 túi niêm phong có mã số PS3 2022062, bên trong có: 01 gói ni lông miệng túi có viền đỏ, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 gói ni lông miệng túi có viền màu đỏ, bên trong chứa 08 viên nén màu xám bên trên có số “2.0”; 01 túi niêm phong có mã số PS3 20202065, bên trong có chất rắn dạng bột màu trắng (thu trên đĩa sứ); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng gold, có số imei: 359263063709332, bên trong chứa sim số thuê bao 0905913929; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn D1 Th1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng gold, có số imei: 354741666017208, bên trong có chứa sim thuê bao 0905526525; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Ngọc Ch; số tiền 7.700.000 đồng của bị cáo Võ Văn Tr, 20.000.000 đồng của Nguyễn Thành D1, 12.000.000 đồng của Nguyễn D1 Th1 và 6.000.000 đồng của Nguyễn Ngọc Ch.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản cáo trạng 27/CT-VKS ngày 10 tháng 8 năm 2021 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Võ Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Tr từ 24 tháng đến 30 tháng tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (06/5/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 túi niêm phong số 558/C09C-Đ2 bên ngoài có dấu đỏ của phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.

+ 01 túi niêm phong có mã số PS3 2022063, bên trong có: 03 miếng giấy màu vàng và 01 thẻ chứa sim diện có mã số 8984048000036304678.

+ 01 cái đĩa sứ màu trắng.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 10.000 đồng bên trong túi niêm phong có mã số PS3 2022063.

- Trả lại cho Võ Văn Tr: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu xanh bên trong có sim thuê bao số 0768444418; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 35487607942980, bên trong có chứa sim thuê bao 0768444478; 01 chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn Tr.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.700.000 đồng của Võ Văn Tr để đảm bảo thi hành án.

- Đối với các vật chứng khác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật nên không đề nghị xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Tr khai nhận hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử và lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án nên căn cứ vào Điều 292 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn Tr đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/5/2021, tại quán karaoke New World thuộc thị trấn Hương An, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, bị cáo Tr đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Ketamin có khối lượng là 2,2 gam và loại ma túy MDMA có khối lượng 4,03 gam nhằm mục đích để sử dụng. MDMA là loại chất nằm trong danh mục IB, STT 27 và Ketamine là loại chất nằm trong danh mục III, STT 35 của Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 10 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần có tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người và đời sống cộng đồng. Nhà nước cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy dưới mọi hình thức, người vi phạm sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được điều đó, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã gây ra mới đủ tính ren đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo có công với cách mạng và có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi 02 con nhỏ. Với những tình tiết trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhưng cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Tr có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ, nên không xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Những nội dung liên quan đến vụ án:

- Đối với người thanh niên tại quán karaoke Blue và người thanh niên tại sân bóng Chợ Chùa đã bán ma túy cho bị cáo Tr, nhưng quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh, xử lý là phù hợp.

- Đối với Nguyễn Mậu D, Nguyễn Thành D1, Nguyễn D1 Th1 và Nguyễn Ngọc Ch do không biết việc bị cáo Tr mua ma túy sử dụng nên không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Đối với 01 túi niêm phong số 558/C09C-Đ2 bên ngoài có dấu đỏ của phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng; 01 túi niêm phong có mã số PS3 2022063, bên trong có: 03 miếng giấy màu vàng và 01 thẻ chứa sim có mã số 8984048000036304678; 01 cái đĩa sứ màu trắng. Đây là những vật cấm lưu hành và hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với tờ tiền 10.000 đồng bên trong túi niêm phong có mã số PS3 2022063 hiện vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu xanh bên trong có sim thuê bao số 0768444418; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 35487607942980, bên trong có chứa sim thuê bao 0768444478; 01 chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn Tr là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Tr, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 7.700.000 đồng thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tr phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Tr 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (06/5/2021).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 túi niêm phong số 558/C09C-Đ2 bên ngoài có dấu đỏ của phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.

+ 01 túi niêm phong có mã số PS3 2022063, bên trong có: 03 miếng giấy màu vàng và 01 thẻ chứa sim diện có mã số 8984048000036304678.

+ 01 cái đĩa sứ màu trắng.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 10.000 đồng bên trong túi niêm phong có mã số PS3 2022063.

- Trả lại cho Võ Văn Tr: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu xanh bên trong có sim thuê bao số 0768444418; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 35487607942980, bên trong có chứa sim thuê bao 0768444478; 01 chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn Tr.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.700.000 đồng của Võ Văn Tr để đảm bảo thi hành án. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, số tiền còn lại được trả cho bị cáo Tr.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/8/2021; số tiền 7.700.000 đồng đang được tạm giữ tại số tài khoản 3949.0.1021210.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo Ủy nhiệm chi ngày 25/8/2021; Chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn Tr được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn kèm theo Bản án).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo Võ Văn Tr phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (31/8/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ