- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn đình d và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn Văn Q;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày 07 - 04 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Dương Viết Vĩnh
2. Ông Nguyễn Văn Hợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên
tòa: Bà Lý Thị Tuyết - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 04 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2021/TLST-HS, ngày 09 tháng 03 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 03 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH D (Tên gọi khác: Không),Sinh năm 1990
tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1968 và bà Hà Thị B, sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Phạm Thị N1, sinh năm 1994, và có 03 con, lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2013 bị TAND huyện Phú Bình xử phạt 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Đã xóa án tích.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
2. Họ và tên: NGUYỄN KHẮC T (Tên gọi khác: Nguyễn Văn T), sinh
năm 1976 tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định được bố đẻ,con bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1952; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ là Dương Thị U, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2000 bị TAQS khu vực 1, Quân khu 1 xử phạt 42 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
3. Họ và tên: NGUYỄN VĂN Q (Tên gọi khác: Không),sinhnăm 1974 tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1953; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979 và có 02con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị TAND huyện Phú Bình xử phạt 09 tháng tù về tội "Đánh bạc". Đã xóa án tích.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
4. Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH A (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1988
tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm H, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1968 và bà Hà Thị B, sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là Dương Thị Thùy L, sinh năm 1992 vàcó 01 con sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
5. Họ và tên: DƯƠNG VĂN M (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1991
tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Mịt, xã N, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T2, sinh năm 1962 và bà Đặng Thị T3 sinh năm 1962; Gia đình có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có vợ là Dương Thị N2, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
6. Họ và tên: HOÀNG MINH C (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1997
tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Minh T4, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Hoàng Minh C là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Phú Bình đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 04/01/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
7. Họ và tên: HÀ VĂN K (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1988 tại Thái
Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Trung 3, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Đ, sinh năm 1963 và bà Dương Thị T5, sinh năm 1963; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có vợ là Dương Thị H, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 18/12/2020, Công an huyện Phú Bình nhận
được tin báo của quần chúng nhân dân về việc: Tại khu vực nhà máy gạch Tuynel thuộc xóm T, xã Đ, huyện P tỉnh Thái Nguyên có tụ tập một số đối tượng đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền.Tổ công tác phối hợp cùng công an xã Điểm Thụy, huyện Phú Bình kiểm tra, xác minh phát hiện các đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” được thua bằng tiền. Bắt giữ được 07 đối tượng gồm: Nguyễn Đình D, sinh năm 1990, Nguyễn Đình A, sinh năm 1988, cùng trú tại: xóm H, xã Đ; Nguyễn Khắc T, sinh năm 1976, trú tại: xóm Đ, xã X; Dương Văn M, sinh năm 1991, trú tại: xóm M, xã N; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974, trú tại: xóm Đ, xã N; Hoàng Minh C, sinh năm 1997, trú tại: xóm Trạng, xã N; Hà Văn K, trú tại: xóm Trung 3, xã Đ, huyện P.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ
vật chứng và đưa các đối tượng Nguyễn Đình D, Nguyễn Đình A, Nguyễn Khắc T, Dương Văn M, Nguyễn Văn Q, Hoàng Minh C và Hà Văn K về Công an huyện Phú Bình để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, Nguyễn Đình D, Nguyễn
Đình A, Nguyễn Khắc T, Dương Văn M, Nguyễn Văn Q, Hoàng Minh C và Hà Văn K khai nhận như sau: Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2020, Nguyễn Đình D đến công ty gạch Tuynel Đ có địa chỉ xóm T, xã Đ, huyện P để bốc gạch. Trong khi chờ bốc gạch, D gặp và rủ Nguyễn Khắc T (Nguyễn Văn T) là công nhân công ty gạch ra khu xưởng đánh bạc dưới hình thức chơi “Ba cây” được thua bằng tiền Việt nam đồng, T đồng ý. Khi vào xưởng T thấy một bộ bài tú lơ khơ ở trên tấm sắt nên đã lấy làm công cụ chơi bạc, D và T đánh bạc được khoảng 05 phút thì có Nguyễn Đình A và Dương Văn M cũng đến công ty gạch Tuynel Đ để xem và bốc gạch cho khách, nhưng chưa có gạch thì A và M tham gia đánh bạc cùng D và T. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày có Nguyễn Văn Q, Hoàng Minh C tiếp theo là Hà Văn K đến tham gia đánh bạc cùng D, T, A và M.
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền thu giữ khi bắt quả tang các đối
tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 8.130.000 đồng, gồm số tiền thu tại bàn là 7.130.000, thu giữ trên người Nguyễn Đình D là 500.000 đồng và trên người Nguyễn Khắc T là 500.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc.
Căn cứ điểm a, b Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc trong vụ án được xác định là 8.130.000 đồng.
Số tiền 2.030.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Đình A, số tiền
1.045.000 đồng thu giữ trên người của Hà Văn K, số tiền 70.000 đồng thu giữ trên người của Dương Văn M, số tiền 20.000 đồng thu giữ trên người của Hoàng Minh C và số tiền 1.050.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Văn Q quá trình điều tra các bị cáo khai nhận không sử dụng để đánh bạc.
Về cách thức đánh bạc được những người chơi quy định như sau: Cách
thức đánh “Ba cây” như sau: Sử dụng 36 quân bài tú lơ khơ từ bộ A đến 9. Trước khi đánh bạc sẽ chọn người cầm chương bằng cách chia cho mỗi người 03 quân bài cộng điểm, ai cao điểm nhất sẽ là người cầm chương và chia bài. Quy định mỗi ván bạc mỗi người bỏ ra 20.000 đồng một ván để vào "gà". Khi đánh bạc, người cầm chương sẽ chia đều cho người đánh bạc mỗi người 03 quân bài sau đó người đánh bạc sẽ cộng điểm 03 quân bài được chia, điểm của mỗi ván bạc là tổng điểm 3 quân < hoặc = 10, nếu điểm > hơn 10 thì điểm bài là số dư khi lấy tổng trừ đi 10 hoặc 20, nếu bằng điểm nhau thì so sánh chất quân bài to hơn thì thắng theo thứ tự từ to đến bé là Rô, Cơ, Tép, Bích. Sau khi có điểm thì người chơi hạ bài để so điểm với người cầm chương. Khi có người chơi được 10 điểm nếu thắng chương thì được gấp đôi số tiền đã đặt cược và đồng thời là người cầm chương tiếp theo. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Phú Bình kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân; 01 tấm kim loại
có kích thước 86cm x 1,02m; số tiền 12.345.000 đồng (tổng số tiền thu giữ tại vị trí đánh bạc và thu giữ, tạm giữ của các bị cáo); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng đồng số IEMI: 59052 (năm số cuối) của Nguyễn Đình A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng số IMEI: 62961 (năm số cuối), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng đồng số IMEI: 28731 (năm số cuối) của Hà Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime màu vàng có số IMEI 1: 63502/01, số IMEI 2: 63500/01 (sáu số và ký tự cuối) của Dương Văn M; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS MAX màu trắng số IMEI: 44760 (năm số cuối) của Hoàng Minh C; 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A10 màu xanh số IMEI 1: 33455/01, số IMEI 2 33453/01 (sáu số và ký tự cuối) của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng số IMEI: 67444 (năm số cuối), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng số IMEI: 85226 (năm số cuối), 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5 màu vàng bị bung màn hình không hoạt động của Nguyễn Đình D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 màu vàng đồng có số IMEI 1: 27898/01, số IMEI 2: 27896/01 (bảy số và ký tự cuối), 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu đen BKS: 20G1-054.05 của Nguyễn Khắc T. (số vật chứng và tiền trên hiện bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tiền gửi của Công an huyện Phú Bình chờ xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-PB, ngày 08/3/2021 củaViện kiểm sát
nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Đình A, Nguyễn Khắc T, Dương Văn M, Nguyễn Văn Q, Hoàng Minh C và Hà Văn K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình
trình bầy lời luận tội và đề nghị với Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Văn Q,
Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K đều phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Văn Q từ 07 đến 10 tháng tù;
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C, từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hà Văn K từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung mỗi bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn
Khắc T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều
106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 8.130.000 đồng (Tám triệu một
trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền dùng vào việc đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồmcó:01 bộ bài
tú lơ khơ 36 quân; 01 tấm kim loại có kích thước 86cm x 1,02m;
- Tạm giữ tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án đối với các bị cáo
sau: Số tiền: 2.030.000 đồng trên thu giữ người Nguyễn Đình A, số tiền 1.045.000 đồng thu giữ trên người của Hà Văn K, số tiền 70.000 đồng thu giữ trên người của Dương Văn M, số tiền 20.000 đồng thu giữ trên người của Hoàng Minh C và số tiền 1.050.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX: màu vàng đồng, máy cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Đình A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7: màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6: màu vàng đồng, máy cũ, đã qua sử dụng của Hà Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime: màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng của Dương Văn M; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS MAX: màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Minh C; 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A10: màu xanh, máy cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng số IMEI: 67444 (năm số cuối); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s: màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5: màu vàng, cũ, hỏng, bị bung màn hình của Nguyễn Đình D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2: màu vàng đồng vỡ kính màn hình của Nguyễn Khắc T; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu đỏ đen BKS: 20G1-054.05, xe có gương chiếu hậu bên trái, số máy: Y357411, số khung: JC43E – 6298709, dung tích lanh 109, đăng ký lần đầu 29/10/2011 do Công an tỉnh Thái Nguyên cấp, khi giao nhân không kiểm tra các bộ phận bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Khắc T.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước và có
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt quả tang, vật chứng của vụ án và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, có đủ căn cứ để khẳng định:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 18/12/2020, tại khu vực xưởng nhà máy gạch
Tuynel có địa chỉ tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T (Nguyễn Văn T), Nguyễn Đình A, Nguyễn Văn Q, Dương Văn M, Hoàng Minh C, Hà Văn K đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Ba cây” sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng. Trong khi Đình D, T, A, Văn Q, M , C và K đang có hành vi đánh bạc thì bị Tổ công tác của Công an huyện Phú Bình bắt quả tang thu giữ tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 8.130.000 đồng (tám triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) và một số vật chứng khác có liên quan. Hành vi đó của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo đều đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Nội dung Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. …
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng.”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng,giảm nhẹtrách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của các bị cáoNguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Văn Q,
Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K đã phạm vào tội “Đánh bạc”, khung hình phạt mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều nhận thức rõ việc đánh bạc trái phép là gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình. Do vậy, tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K
phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hà Văn K có bố đẻ là ông Hà Văn Đ là thương binh hạng 4 nên được hưởng tình tiết giảm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương xứng với từng hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra. Trong đó:
Đối với các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Văn Q là
người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử bằng một bản án. Do vậy, cần áp dụng biện pháp cải tạo cách ly ra khỏi xã hội đối với các bị cáo nhằm mục đích cải tạo giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Đình A, Hoàng Minh C, Dương Văn M, Hà Văn
K, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo, đồng thời nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta và Hội đồng xét xử cần tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
. Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục
đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với mỗi bị cáo là 10.000.000đ nộp sung công quỹ Nhà nước, theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Đình D,
Nguyễn Khắc T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C, Hà Văn K, buộc các bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07 tháng 04 năm 2021 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
. Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều
46, Điều 47của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 8.130.000 đồng (Tám triệu một
trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền dùng vào việc đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồmcó: 01(Một)
bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài đã qua sử dụng; 01(Một) tấm kim loại có kích thước 86cm x 1,02m;
- Tạm giữ tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án đối với các bị cáo
sau: Số tiền: 2.030.000 đồng trên thu giữ người Nguyễn Đình A, số tiền 1.045.000 đồng thu giữ trên người của Hà Văn K, số tiền 70.000 đồng thu giữ trên người của Dương Văn M, số tiền 20.000 đồng thu giữ trên người của Hoàng Minh C và số tiền 1.050.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX: màu vàng đồng, máy cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Đình A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7: màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6: màu vàng đồng, máy cũ, đã qua sử dụng của Hà Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime: màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng của Dương Văn M; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS MAX: màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Minh C; 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A10: màu xanh, máy cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng số IMEI: 67444 (năm số cuối); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s: màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5: màu vàng, cũ, hỏng, bị bung màn hình của Nguyễn Đình D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2: màu vàng đồng vỡ kính màn hình của Nguyễn Khắc T; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu đỏ đen BKS: 20G1-054.05, xe có gương chiếu hậu bên trái, số máy: Y357411, số khung: JC43E – 6298709, dung tích lanh 109, đăng ký lần đầu 29/10/2011 do Công an tỉnh Thái Nguyên cấp, khi giao nhân không kiểm tra các bộ phận bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Khắc T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/04/2021 giữa Cơ quan
cảnh sát điều tra của Công an huyện Phú Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình và Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử số 50 ngày 02/04/2021 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với
các bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của Pháp luật, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Thông báo quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn
Khắc T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C, Hà Văn K, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn Văn Q;
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đình A, Hoàng Minh C, Dương Văn M.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hà Văn K.
- Điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47của Bộ luật hình sự năm 2015 và
Điều 106, Điều 123, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố
Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn
Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K đều phạm tội “Đánh bạc”.
2. Hình phạt chính: Xử phạt
- Nguyễn Đình D 07 (Bẩy) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020.
- Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T) 07 (Bẩy) tháng tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020.
- Nguyễn Văn Q 07 (Bẩy) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020.
- Nguyễn Đình A 06 (S+áu) tháng tù,cho hưởng án treo. Thời gian thử
thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 07 tháng 04 năm 2021);
- Dương Văn M 06 (Sáu) tháng tù,cho hưởng án treo. Thời gian thử
thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 07 tháng 04 năm 2021);
- Hoàng Minh C 06 (Sáu) tháng tù,cho hưởng án treo. Thời gian thử
thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 07 tháng 04 năm 2021);
- Hà Văn K 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12
(Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 07 tháng 04 năm 2021);
Giao các bị cáo Nguyễn Đình A, Hoàng Minh C và Hà Văn K cho Ủy ban
nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; giao bị cáo Dương Văn M cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời
gian thử thách, người được hưởng án treo (là các bị cáo Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C, Hà Văn K) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Đình
D, Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp sung quỹ Nhà nước.
4. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Đình D,
Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K buộc các bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07 tháng 04 năm 2021 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
5. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 8.130.000 đồng (Tám triệu một
trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền dùng vào việc đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm có: 01 bộ bài
tú lơ khơ 36 quân; 01 tấm kim loại có kích thước 86cm x 1,02m;
- Tạm giữ tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án đối với các bị cáo
sau: Số tiền: 2.030.000 đồng trên thu giữ người Nguyễn Đình A, số tiền 1.045.000 đồng thu giữ trên người của Hà Văn K, số tiền 70.000 đồng thu giữ trên người của Dương Văn M, số tiền 20.000 đồng thu giữ trên người của Hoàng Minh C và số tiền 1.050.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX: màu vàng đồng, máy cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Đình A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7: màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6: màu vàng đồng, máy cũ, đã qua sử dụng của Hà Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime: màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng của Dương Văn M; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS MAX: màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Minh C; 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A10: màu xanh, máy cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng số IMEI: 67444 (năm số cuối); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s: màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5: màu vàng, cũ, hỏng, bị bung màn hình của Nguyễn Đình D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2: màu vàng đồng vỡ kính màn hình của Nguyễn Khắc T; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu đỏ đen BKS: 20G1-054.05, xe có gương chiếu hậu bên trái, số máy: Y357411, số khung: JC43E – 6298709, dung tích lanh 109, đăng ký lần đầu 29/10/2011 do Công an tỉnh Thái Nguyên cấp, khi giao nhận không kiểm tra các bộ phận bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Khắc T.
6. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T
(tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước.
7. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị
cáo (Nguyễn Đình D, Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình A, Dương Văn M, Hoàng Minh C và Hà Văn K). Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện Phú Bình; - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình; - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình; - CC T.H.A DS huyện Phú Bình; - Các Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ích Yên |