vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 11/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H - 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 591 Bộ luật dân sự tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày: 11-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quang Kim C, Nghề ngH: Nguyên là Giáo viên và Phó phòng GD-ĐT huyện Lai Vung.

Ông Nguyễn Phát Triển, Nghề ngH: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2021, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công kH vụ án hình sự thụ lý số: 25/2021/TLST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Công H, sinh ngày: 26/3/2003, tại: Đồng Tháp; nơi cư trú: 139A/2, ấp Định Phong, xã Định Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; nghề ngH: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Bé T và con bà Nguyễn Thị Cẩm L; tiền án, tiền sự: Không; không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú và hiện đang tại ngoại tại 139A/2, ấp Định Phong, xã Định Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Công H:

Nguyễn Văn Bé T - sinh năm: 1982 (cha ruột) (có mặt);

Nguyễn Thị Cẩm L - sinh năm: 1981 (mẹ ruột) (có mặt);

Cùng nơi cư trú: 139A/2, ấp Đ P, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H: Trợ giúp viên pháp lý là ông Hà Văn N - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Tháp, Chi nhánh số 1 (có mặt). Địa chỉ: 466 đường N S S, K 5, P 1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị hại:

Nguyễn Văn H - sinh năm: 1992 (Nạn nhân đã chết)

Nơi cư trú: 892/5, ấp H Đ, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại (Nguyễn Văn H):

1. Nguyễn Thị H - sinh năm: 1970 (mẹ ruột bị hại); nơi cư trú: 892/5, ấp H Đ, xã V T,, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

2. Nguyễn Thị C - sinh năm: 1987 (vợ bị hại) (có mặt); nơi cư trú: 84, T 4, ấp T K, xã T Đ, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

3. Nguyễn Thị Ngọc Y - sinh ngày: 03/12/2011 (con ruột bị hại)

4. Nguyễn Thị Ngọc L - sinh ngày: 27/7/2013 (con ruột bị hại)

5. Nguyễn Thúy V - sinh ngày: 25/5/2018 (con ruột bị hại)

Cùng nơi cư trú: 892/5, ấp H Đ, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Ngọc Y, Nguyễn Thị Ngọc L và Nguyễn Thúy V.

Nguyễn Thị C - sinh năm: 1987 (mẹ ruột) (có mặt); nơi cư trú: 84, T 4, ấp T K, xã T Đ, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

Nguyễn Thị H ủy quyền cho: Nguyễn Thị C - sinh năm: 1987 (có mặt); nơi cư trú: 84, T 4, ấp T K, xã T Đ, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hoàng Minh H - sinh năm: 1999; nơi cư trú: Thôn H S, xã B V, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.

2. Lê Ngọc H E - sinh năm: 1986 (có mặt); nơi cư trú: 1058, ấp T T, xã T L, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

Hoàng Minh H ủy quyền cho: Lê Ngọc H E - sinh năm: 1986 (có mặt); nơi cư trú: 1058, ấp T T, xã T L, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1. Trần Thị V- sinh năm: 1973 (có mặt); nơi cư trú: 892B/5, ấp H Đ, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

2. Hồ Minh Q - sinh năm: 2002 (vắng mặt); nơi cư trú: 397/3, ấp T T, xã T H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 07/7/2020, Nguyễn Công H sinh ngày 26/3/2003 (chưa đủ 18 tuổi) điều khiển xe gắn máy biển số 63FA-6057 từ nhà của H ở ấp Đ P, xã Đ H, huyện Lai Vung đến khu vực Đô thị Ngã Ba P H thuộc xã P H, huyện Lai Vung để uống nước với Hồ Minh Q và người bạn tên L. Đến khoảng 22 giờ 30 phút thì H điều khiển xe gắn máy biển số 63FA-6057 chạy trước trên đường Quốc lộ 54 hướng từ huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long về xã T H, huyện Lai Vung để về nhà, Q điều khiển xe chở L chạy sau. Khi đến đoạn thuộc ấp T L, xã P H, huyện Lai Vung thì Nguyễn Công H điều khiển xe gắn máy biển số 63FA-6057 chạy lấn sang phần đường bên trái hướng đi của xe H là 0,8m, nên thanh phuộc bên trái bánh xe trước của H va chạm vào trục bánh trước của xe mô tô biển số 64K1-106.43 do Nguyễn Văn H điều khiển chở sau là Hoàng Minh H đi hướng ngược lại, làm 02 xe cùng H, H, H té ngã xuống đường. Hậu quả là Nguyễn Văn H chết trên đường đi cấp cứu, còn Hoàng Minh H thì bị gãy xương đùi, Nguyễn Công H bị chấn thương vùng đầu.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 07 giờ 30 phút ngày 08/7/2020 tại Km 28+650 Quốc lộ 54, ấp T L, xã P H, huyện Lai Vung. Mặt đường tại nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa phẳng, rộng 9,00m (chín mét), thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, giữa đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng dùng để phân chia H dòng phương tiện ngược chiều nhau từ H hướng, phần đường bên phải hướng đi từ T H về Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long có gờ giảm tốc. Chọn lề chuẩn bên hướng đi từ Bình Tân (tỉnh Vĩnh Long) về xã T H, huyện Lai Vung; tâm vùng va chạm của xe gắn máy biển số 63FA-6057 và xe mô tô biển số 64K1-106.43 đo vào lề 5,30 mét, tức xe mô tô biển số 63FA-6057 lấn sang trái đường 0,8 mét. Điểm va chạm trên phương tiện: thanh phuộc bên trái bánh xe trước của xe gắn máy biển số 63FA-6057 do Nguyễn Công H điều khiển va chạm vào trục bánh trước của xe mô tô biển số 64K1-106.43 do Nguyễn Văn H điều khiển chở Hòang Minh H chạy hướng ngược lại.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 08/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung thể hiện:

- Đối với xe gắn máy biển số 63FA-6057:

Tay cầm bên phải bị trầy xước, mất thun; Cùm đèn cH sáng bị sứt rời, kính bị nứt; Mỏ vè trước bị bể, sứt mất; phuộc trước bị cong từ trước ra sau; Cốt trục bánh xe trước, mặt bên trái có dính mô, nghi mô cơ; Thanh phuộc bên trái có dính chất màu nâu đỏ; Ốp lốc máy bên trái bị bể hoàn toàn; Thanh gác chân bên trái bị gãy sứt mất; Cần số bị cong từ trước ra sau, từ ngoài vào trong; Cần thắng bị cong từ trước ra sau, từ dưới lên trên; Thanh gác chân bên phải bị cong từ trước ra sau, mặt ngoài có dấu trầy xước; Bàn đạp khởi động máy bị cong từ trên xuống dưới; Bộ phận giảm thanh mặt ngoài, phần đuôi có dấu trầy xước mất kim loại.

- Đối với xe mô tô biển số 64K1-106.43:

Thun tay cầm bên phải, mặt ngoài có dấu trầy xước; Thắng tay, mặt ngoài trầy xước mất kim loại; Thun tay cầm bên phải bị sứt mất; Đồng hồ bị bể, sứt rời; Ốp đầu bị bể phức tạp, mất mũ; Ốp bảo vệ cổ xe bị bể phần bên trái, sứt hờ phần bên trái; Đèn chiếu sáng bị bể; Phuộc trước bị cong từ trước ra sau; Mâm bánh xe trước đính nhiều nhớt; Đùm trước mặt bên trái bị thủng mất kim loại kích thước 04cm x 02cm; Bửng bên phải, bên trái bị bể phức tạp, mất mũ; Thắng chân, mặt ngoài trầy xước, mất kim loại; Thanh gác chân trước bên phải bị cong từ trước ra sau, mặt ngoài có dấu trầy xước; Bình điện sứt rời; tấm chấn bùn phía sau cùng biển số bị gãy sứt rời; Ốp lốc máy bên trái có dấu trầy xước; Cần số bị con từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, có dấu trầy xước; Thanh gác chân trước bên trái bị cong từ trước ra sau, mất thun.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã thu giữ: 01 xe gắn máy biển số 63FA-6057, nhãn hiệu Honda, loại Cúp 50, màu xanh, số máy 63714, số khung 259423 (không có giấy tờ xe) ; 01 xe môtô biển số 64K1-106.43, nhãn hiệu KWSHIORKOR, dung tích 107, màu xanh, số máy 101040.

Ngày 19/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã trao trả xe mô tô 64K1-106.43 cho chị Lê Ngọc H E.

Tại bản giám định pháp y về tử thi số 312/TTh/GĐPY ngày 08/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận: nguyên nhân chết của Nguyễn Văn H do Chấn thương sọ não nặng làm não bị phù nề xuất huyết.

Tại Kết luận giám định số 646, 647/KL-KTHS cùng ngày 17/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của ông Nguyễn Văn H có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 232,3mg/100ml máu; mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của ông Hoàng Minh H có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 25,7mg/100ml máu.

Nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Công H không xác định được do không thu được mẫu máu của H, do tại thời điểm xảy ra tai nạn H bị thương nặng phải chuyển đến Bệnh viện Chợ rẫy Thành Phố Hồ Chí Minh cấp cứu.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 70/ KL-ĐGTS ngày 15/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lai Vung:

Xe mô tô biển số 64K1-106.43 nhãn hiệu KWSHIORKOR, dung tích 107, màu xanh, số máy 101040, số khung 101040 thiệt hại là 875.000 đồng.

Xe gắn máy biển số 63FA-6057 nhãn hiệu Honda, loại Cúp 50, màu xanh, số máy 63714, số khung 259423, thiệt hại là 348.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSLVg, ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Nguyễn Công H ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Công H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H là chị Nguyễn Thị C, chị C cũng là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H và là đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Ngọc Y, Nguyễn Thị Ngọc và Nguyễn Thúy trình bày: Việc anh H bị tai nạn giao thông do bị cáo H gây ra và tử vong là đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Chị yêu cầu bị cáo H bồi thường tổng số tiền 220.000.000 đồng (tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng 3 đứa con mỗi đứa 50.000.000 đồng là 150.000.000 đồng, tiền mai táng phí 20.000.000 đồng). Hiện tại chị C đã nhận 20.000.000 đồng tiền mai táng phí, mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị H đã nhận 3.000.000 đồng từ gia đình bị cáo, số tiền còn lại chị tiếp tục yêu cầu bị cáo H cùng cha mẹ bị cáo là bà Cẩm L và Bé T bồi thường 197.000.000 đồng, về hình sự yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra chị C không trình bày gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Ngọc H E cũng là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Minh H trình bày: Việc anh H bị tai nạn giao thông do bị cáo H gây ra và bị thương tích là đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, khi anh H nằm viện chị là người trực tiếp nuôi anh H. Chị yêu cầu bị cáo H và cha mẹ bị cáo bồi thường cho chị tiền công lao động do nuôi bệnh anh H là số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho anh H tổng số tiền 10.875.000 đồng (tiền thuốc và điều trị là 5.680.000 đồng; tiền xe Taxi chuyển viện và xuất viện là 1.200.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng khi anh H điều trị bệnh là 3.120.000 đồng và tiền thiệt hại của xe mô tô biển số 64K1-106.43 là 875.000 đồng), chị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra chị không trình bày gì thêm.

- Bị cáo H và cùng cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L đồng ý tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Văn H theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị C số tiền 197.000.000 đồng, nhưng hiện đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 017468 ngày 04/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, để tiếp tục khắc phục cho bị cáo; và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị Lê Ngọc H E cũng là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Minh H số tiền tổng cộng là 12.875.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Nguyễn Công H đã có hành vi điều khiển xe gắn máy biển số 63FA-6057 chạy trên đường Quốc lộ 54 hướng từ huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long về xã T H, huyện Lai Vung để về nhà. Khi đến đoạn thuộc ấp T L, xã P H, huyện Lai Vung thì Nguyễn Công H điều khiển xe gắn máy biển số 63FA-6057 chạy lấn sang phần đường bên trái hướng đi của H 0,8m, làm thanh phuộc bên trái bánh xe trước của H đụng vào trục bánh trước của xe mô tô biển số 64K1-106.43 do Nguyễn Văn H điều khiển chở Hòang Minh H chạy hướng ngược lại, làm Nguyễn Văn H bị té xuống đường tử vong do chấn thương sọ não, Hòang Minh H bị gãy xương đùi trái, xương cẳng tay phải và gây thiệt hại cho xe mô tô biển số 64K1-106.43 là 875.000 đồng, xe gắn máy biển số 63FA-6057 là 348.000 đồng, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Công H từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung tuyên Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Công H và cha mẹ bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau:

+ Bồi thường cho chị Nguyễn Thị C: Tổng số tiền 220.000.000 đồng (tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng 3 đứa con mỗi đứa 50.000.000 đồng là 150.000.000 đồng, tiền mai táng phí 20.000.000 đồng). Hiện tại chị C đã nhận 20.000.000 đồng tiền mai táng phí, mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị H đã nhận 3.000.000 đồng từ gia đình bị cáo; khấu trừ lại thì bị cáo H cùng cha mẹ bị cáo là bà Cẩm L và Bé T cùng có nghĩa vụ bồi thường 197.000.000 đồng, nhưng hiện tại cha mẹ bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 017468 ngày 04/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, để tiếp tục khắc phục cho bị cáo; như vậy bị cáo H cùng cha mẹ bị cáo là bà Cẩm L và Bé T có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 195.000.000 đồng.

+ Bị cáo H và cùng cha mẹ bị cáo bồi thường cho anh Hoàng Minh H và người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Minh H là chị Lê Ngọc H E: Tiền thuốc và điều trị là 5.680.000 đồng; tiền xe Taxi chuyển viện và xuất viện là 1.200.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng khi anh H điều trị bệnh là 3.120.000 đồng. Tiền 15 ngày công lao động chị H E chăm sóc anh H là 2.000.000 đồng và tiền thiệt hại của xe mô tô biển số 64K1-106.43 là 875.000 đồng. Tổng cộng là 12.875.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung tuyên: Giao cho Chi cục Thi hành án huyện Lai Vung tiếp tục quản lý xe gắn máy biển số 63FA-6057 nhãn hiệu Honda, loại Cúp 50, màu xanh, số máy 63714, số khung 259423 của chị Nguyễn Thị Cẩm L để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H là Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Văn Nam phát biểu quan điểm: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Công H là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục bồi thường một phần cho đại diện hợp pháp bị hại, đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên còn hạn chế nhận thức về pháp luật, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và sau khi gây tai nạn bị cáo bị thương tật khá nặng, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự; về hình phạt Kiểm sát viên đề nghị mức án tù giam đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Công H thống nhất với phát biểu của vị Trợ giúp viên, không bổ sung gì thêm và không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H thống nhất với phát biểu của vị Trợ giúp viên pháp lý, xác nhận lời kH của bị cáo H là tự nguyện, không bổ sung gì thêm và không tranh luận gì.

Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, kH nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Công H đã có hành vi điều khiển xe gắn máy biển số 63FA-6057, do không chú ý quan sát, chạy lấn sang phần đường bên trái hướng đi của H 0,8m, làm thanh phuộc bên trái bánh xe trước của H đụng vào trục bánh trước của xe mô tô biển số 64K1-106.43 do Nguyễn Văn H điều khiển chở Hòang Minh H chạy hướng ngược lại, làm Nguyễn Văn H bị té xuống đường tử vong do chấn thương sọ não, Hòang Minh H bị gãy xương đùi trái, xương cẳng tay phải và gây thiệt hại cho xe mô tô biển số 64K1-106.43 là 875.000 đồng, xe gắn máy biển số 63FA-6057 là 348.000 đồn; lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, cho nên hành vi của bị cáo Nguyễn Công H có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” phạm vào điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…………………”.

Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Công H là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện. Bị cáo biết rõ khi tham gia giao thông không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn là vi phạm luật giao thông đường bộ, nhưng do chủ quan mà bị cáo Nguyễn Công H đã gây ra tai nạn giao thông, làm cho anh Nguyễn Văn H tử vong và Hoàng Minh H bị gãy xương đùi trái, xương cẳng tay phải và gây thiệt hại cho xe mô tô biển số 64K1-106.43 là 875.000 đồng, xe gắn máy biển số 63FA-6057 là 348.000 đồng, với hậu quả nghiêm trọng như trên, nên việc đưa bị cáo ra xét xử công kH như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm mục đích giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với anh Hoàng Minh H không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Công H và không yêu cầu phần tiền bồi thường tổn thất tinh thần, khi nào anh Hoàng Minh H có yêu cầu, sẽ xem xét giải quyết sau bằng một vụ án khác.

Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án về mức hình phạt cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên.

Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo đề nghị giải quyết nội dung về tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo trong vụ án này là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên Trợ giúp viên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là chưa đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Trợ giúp viên.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Công H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự để xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra khi phạm tội bị cáo Nguyễn Công H là người chưa thành niên, nên cần áp dụng Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự để đảm bảo đường lối xử lý người chưa thành niên đúng với quy định pháp luật hình sự.

Người làm chứng có mặt và vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời kH tại phiên tòa và các lời kH có trong hồ sơ vụ án những người này trình bày đúng như nội dung vụ án.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Trả cho Nguyễn Thị Cẩm L 01 xe gắn máy biển số 63FA-6057, nhãn hiệu Honda, loại Cup 50, màu xanh, số máy 63714, số khung C50-V259423, dung tích xi lanh 49cc, hiện trạng xe hư hỏng nhiều bộ phận và không có giấy đăng ký xe, nhưng Giao cho Chi cục Thi hành án huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục quản lý số tiền 2.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã nộp khắc phục cho gia đình bị hại theo biên lai thu số 017468 ngày 04/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng trên và tiền do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

Về trách nhiệm dân sự:

- Đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị C đã nhận 20.000.000 đồng, bà H đã nhận 3.000.000 đồng tiền bồi thường từ gia đình bị cáo. Chị C tiếp tục yêu cầu bị cáo và cha mẹ bị cáo bồi thường tổng cộng là 197.000.000 đồng (gồm: tiền cấp dưỡng cho 03 cháu Nguyễn Thị Ngọc Yến, Nguyễn Thị Ngọc Linh, Nguyễn Thúy Vy con anh Nguyễn Văn H là 150.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 47.000.000 đồng). Việc yêu cầu bồi thường của chị C được bị cáo H và cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L chấp nhận bồi thường nên cần công nhận sự thỏa thuận này là phù hợp quy định pháp luật; nhưng gia đình bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 017468 ngày 04/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung để tiếp tục khắc phục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, nên bị cáo H và cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Thị C số tiền 195.000.000 đồng.

- Người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Minh H là chị Lê Ngọc H E yêu cầu bị cáo và cha mẹ bị cáo bồi thường tổng cộng là 12.875.000 đồng (gồm: tiền thuốc và điều trị là 5.680.000 đồng; tiền xe Taxi chuyển viện và xuất viện là 1.200.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng khi anh H điều trị bệnh là 3.120.000 đồng, tiền 15 ngày công lao động chị H E chăm sóc anh H là 2.000.000 đồng và tiền thiệt hại của xe mô tô biển số 64K1-106.43 là 875.000 đồng). Việc yêu cầu bồi thường của Hoàng Minh H và Lê Ngọc H E được bị cáo H và cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L chấp nhận, nên cần công nhận sự thỏa thuận này là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên cha mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn Bé T và bà Nguyễn Thị Cẩm L có nghĩa vụ nộp án phí thay cho bị cáo.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H - 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 591 Bộ luật dân sự tuyên:

- Công nhận sự thỏa thuận giữa người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thị C với bị cáo Nguyễn Công H và cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L; là bị cáo Nguyễn Công H và cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại tổng cộng 197.000.000 đồng (một trăm chín mươi bảy triệu đồng) cho bà Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thị C, nhưng gia đình bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 017468 ngày 04/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung để tiếp tục khắc phục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại; nên bị cáo Nguyễn Công H và cha mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn Bé T và bà Nguyễn Thị Cẩm L có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thị C số tiền 195.000.000 đồng (một trăm chín mươi lăm triệu đồng).

- Công nhận sự thỏa thuận giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Minh H và chị Lê Ngọc H E với bị cáo Nguyễn Công H và cha mẹ bị cáo Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L; là bị cáo Nguyễn Công H và cha mẹ bị cáo là Nguyễn Văn Bé T, Nguyễn Thị Cẩm L có nghĩa vụ bồi thường cho anh Hoàng Minh H 10.875.000 đồng (Mười triệu T trăm bảy mươi lăm nghìn) và bồi thường cho chị Lê Ngọc H E 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Trả cho Nguyễn Thị Cẩm L 01 xe gắn máy biển số 63FA-6057, nhãn hiệu Honda, loại Cup 50, màu xanh, số máy 63714, số khung C50-V259423, dung tích xi lanh 49cc, hiện trạng xe hư hỏng nhiều bộ phận và không có giấy đăng ký xe; nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục quản lý số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp khắc phục theo biên lai thu số 017468 ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng trên và tiền do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Công H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.393.750 đồng (mười triệu ba trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Khi phạm tội bị cáo Nguyễn Công H là người chưa thành niên nên cha mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn Bé T và bà Nguyễn Thị Cẩm L có nghĩa vụ nộp án phí thay cho bị cáo.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/6/2021; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ