- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn T, Nông Văn K, Triệu Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày 25-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Phóng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Thanh Lù.
2. Bà Đinh Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Vũ Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2021/TLHS-ST ngày 05/8/2021,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 413/2021/QĐXXST-HS ngày 11/8/2021 đối với các bị cáo:
Nông Văn K, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1991
Nơi sinh: Xã Đ, huyện L, tỉnh C.
Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh C.
Nghề nghiệp: Nông dân, Trình độ học vấn 5/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nông Văn T, sinh năm 1963 và bà Triệu Thị T, sinh năm 1963; Vợ; Mạc Thị K, sinh năm 1997; con ; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Anh chị em ruột bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ của công an huyện Hạ Lang từ ngày 29/4/2021 đến nay. Có mặt
Triệu Quang H, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2000.
Sinh tại: Xã T, huyện L, tỉnh C.
Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã T, huyện L, tỉnh C.
Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn V, sinh năm 1964 và bà Bế Thị D, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; anh chị em ruột: Bị cáo có ba anh chị em ruột, bị cáo là con út trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang từ ngày 30/4/2021 đến nay. Có mặt.
Triệu Văn T, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2003.
Sinh tại: Xã M, huyện L, tỉnh C.
Nơi ĐKHKTT: Xóm Y, xã M, huyện L, tỉnh C.
Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn; 6/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T, sinh năm 1979 và bà Nông Thị T, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị em ruột: Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không có
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang từ ngày 24 tháng 5 năm 2021 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Triệu Quang H: Ông Nông Văn Sự, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mạc Thị K, sinh năm 1997
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh C (có mặt).
Triệu văn T, sinh năm 1979
Nơi cư trú: Xóm Y, xã M, huyện L, tỉnh C (có mặt).
Người làm chứng:
Nông Minh C, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh C.
Nông Trọng H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh C.
Nông Văn H1, sinh năm 1974
Hoàng Văn H, sinh năm 1995
Hoàng Thanh H, sinh năm 1998
Nông văn H2, sinh năm 1997. Đều trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh C.
(Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 29 tháng 4 năm 2021, Triệu Quang H trú tại xóm C, xã T, huyện L gọi điện thoại rủ Triệu Văn T trú tại xóm Y, xã M, huyện L cùng nhau sang huyện K để tìm mua ma túy về sử dụng. Sau đó T điều khiển chiếc xe máy BKS 11K1-022.47 đi ra xóm T, xã Đ, huyện L gặp H rồi hai người đi đến xóm P, xã T, huyện K mua ma túy với một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 2.000.000đ. Sau khi mua được hai người quay về rồi đi vào nhà Nông Văn Đ trú tại xóm T, xã Đ, huyện L chơi. Sau đó H đi xuống bếp nhà Đ để chia nhỏ số ma túy được khoảng 20 tép. Sau khi chia ma túy xong H quay lại bàn uống nước. Được một lúc sau thì có Nông Văn H1 trú tại xóm T, xã Đ, L đến nhà Đ và hỏi H “Có ma túy không”, thì H nói không có. Sau đó thấy H1 nài nỉ mãi nên H có bán ma túy cho H1 01 tép với giá 100.000đ rồi H1 đi về nhà. Sau đó H lại sang nhà H1 chơi và tại nhà của H1, H tiếp tục bán ma túy cho Nông Văn K trú tại xóm T, xã Đ 02 tép ma túy với giá 200.000đ. Sau khi mua được K đã lấy 01 tép ra sử dụng. Sau đó Nông Minh C trú tại xóm T, xã Đ đến nhà H1 và hỏi mua ma túy với H, nhưng H không bán. Thấy thế K đã chia 01 tép ma túy cho C một nửa với giá 50.000đ. Sau đó mọi người đi về. Trên đường về nhà K đã bị tổ công tác Công an huyện Hạ Lang phát hiện bắt quả tang số ma túy còn lại. Còn H sau khi nghe tin K bị bắt H đã đem toàn bộ số ma túy còn lại vứt xuống mương nước để tiêu hủy.
Ngày 30/04/2021 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Lang tiến hành cân xác định trọng lượng số ma túy thu giữ của Nông Văn K kết quả cân có khối lượng là 0,06g (không phẩy không sáu gam) và gửi giám định. Tại Kết luận giám định số: 151/GĐMT ngày 13/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại: Heroine.
Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo Nông Văn K khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2021 đến ngày bị bắt ngoài lần bán ma túy cho Nông Minh C, K còn được bán ma túy cho rất nhiều người, cụ thể như sau:
- Bán ma túy cho Nông Trọng H; trú tại xóm T, xã Đ, huyện L 02 lần,
mỗi lần 01 tép với giá là 100.000 vào các ngày 22,23 tháng 4 năm
2021.
- Bán ma túy cho Nông văn H1 trú tại xóm T, xã Đ, huyện L 02 lần,
mỗi lần 100.000đ vào các ngày 25,27 tháng 4 năm 2021. Ngoài ra K
còn được bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không nhớ được
tên và địa chỉ. Bị cáo Triệu Văn T khai nhận được bán ma túy cho những người sau:
- Bán ma túy cho Nông văn K trú tại xóm T, xã Đ, huyện L 02 lần, mỗi
lần 100.000đ vào các ngày 19, 20 tháng 4 năm 2021.
- Bán ma túy cho Triệu Quang H trú tại xóm C, xã T, huyện L mỗi
người 02 , mỗi lần 100.000đ vào các ngày 20,21 tháng 4 năm 2021.
- Bán ma túy cho Nông Văn H1 trú tại xóm T, xã Đ, huyện L 01 lần
với giá là 100.000đ vào ngày 20/4/2021.
- Bán ma túy cho Hoàng Văn H trú tại xóm T, xã Đ, huyện L 01 lần
với giá tiền là 100.000đ vào ngày 20/4/2021.
- Bán ma túy cho Hoàng Thanh H trú tại xóm T, xã Đ, huyện L 01 lần
với giá là 100.000đ vào ngày 20/4/2021.
- Bán ma túy cho Triệu Quang H trú tại xóm C, xã T, huyện L và Nông
Văn H2 trú tại xóm T, xã Đ, huyện L mỗi người 01 tép với giá tiền là
200.000đ vào ngày 24/4/2021. Ngoài ra T còn được bán ma túy cho
nhiều người khác nhưng không biết tên và địa chỉ.
Về tài sản tạm giữ xác định được: - 01 phong bì mặt trước ghi “ Tang vật thu giữ của Nông Văn K bắt ngày 29/4/2021 tại xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh Cao Bằng” có chữ ký của thành phần tham gia và đóng dấu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Lang đã gửi đi giám định hết không hoàn lại.
- 03 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 100.000đ
-01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi8 lite, màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo K dùng để liên lạc và trao đổi, mua bán ma túy;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy màu đen dạng màn hình cảm ứng. Của bị cáo T dùng để liên lạc và trao đổi mua bán ma túy.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu nâu đen, BKS 11K1-045.62 đã qua sử dụng của bị cáo K.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, BKS 11K1- 022.47 đã qua sử dụng của bị cáo T. Chiếc xe trên do ông Triệu Văn T (bố đẻ của T) giao cho T quản lý sử dụng. T mang xe máy đi thực hiện hành vi phạm tội ông T không biết.
Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSHL ngày 04/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Triệu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nông Văn K, Triệu Quang H về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 07 năm đến 8 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Nông Văn K, Triệu Quang H mỗi bị cáo từ 7 đến 8 năm tù.
Về vật chứng, số Heroine thu giữ đã đưa đi giám định hết không hoàn lại;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ do phạm tội mà có;
Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiao mi, màu đen, đã qua sử dụng;
Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A71 màu xanh dạng màn hình cảm ứng vì liên quan đến việc phạm tội.
Trả lại cho người có quyền lợi liên quan Bà Mạc Thị K 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, BKS 11 K1- 045.62 đã qua sử dụng.
Trả lại cho người có quyền lợi liên quan Ông Triệu văn T 01(một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen BKS11K1-022.47 đã qua sử dụng.
Người bào chữa cho bị cáo Triệu Quang H trình bày nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo.
Các bị cáo cho rằng, cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo và không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hạ Lang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền mua bán ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do có sử dụng ma túy nên ngày 29/4/2021 các bị cáo Triệu Quang H rủ Triệu Văn T, sang xóm P, xã T, huyện K mua ma túy với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Mục đích của các bị cáo là mua ma túy về sử dụng và chia nhỏ ma túy để bán cho những người nghiện để kiếm lời. Vào hồi 16 giờ ngày 29/4/2021 thì Nông Văn K bị tổ công tác Công an huyện Hạ Lang đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện L bắt giữ người cùng tang vật là 0,06g chất bột màu trắng được kết luận là ma túy, loại Heroine.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn mua bán trái phép ma túy ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an tại địa phương và tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Triệu Văn T bán ma túy nhiều lần cho rất nhiều người, mỗi lần bán đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên là tình tiết định khung được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Hành vi của các bị cáo Nông Văn K, Triệu Quang H có đủ các yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; về tình tiết tăng nặng: Không có. Các bị cáo K, H, T đều phạm tội liên quan đến ma túy. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tính răn đe giáo dục riêng với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về nguồn gốc số ma túy: Các bị cáo H, T khai nhận số ma túy bị thu giữ bị cáo mua với một người đàn ông không biết tên tại xóm P, xã T, huyện K quá trình điều tra không xác định được nên không đủ cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với những người làm chứng: Nông Minh C, Nông Trọng H, Nông Văn H1, Nông Văn H2, Hoàng văn H, Hoàng Thanh H, khai được mua ma túy với các bị cáo về sử dụng theo quy định của pháp luật thì không truy cứu trách nhiệm hình sự.
. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số Heroine gửi giám định do không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét việc xử lý;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam;
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiao Mi, màu đen, đã qua sử dụng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo;
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A71, màu xanh, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.
- 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu nâu đen BKS 11K1- 045.62 đã qua sử dụng. Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan bà Mạc Thị K trình bày chiếc xe máy trên là tài sản chung của gia đình, việc bị cáo mang đi sử dụng vào việc mua bán ma túy gia đình không biết nên cần được trả lại là có căn cứ;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11K1 – 022.47 người có quyền lợi liên quan ông Triệu văn T (bố bị cáo T) trình bày chiếc xe trên là của ông Triệu Văn T bỏ tiền ra mua cho con, việc bị cáo T mang đi mua bán ma túy ông không biết và yêu cầu được trả lại là có căn cứ.
. Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Triệu văn T.
Căn cứ các điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn K, Triệu Quang H.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn T, Nông Văn K, Triệu Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Triệu Văn T 07 (bảy) năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 24/5/2021.
Xử phạt bị cáo Nông Văn K 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 29/4/2021.
Xử phạt bị cáo Triệu Quang H 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 30/4/2021.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam do phạm tội mà có.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại XiaoMi, màn hình cảm ứng, màu đen, đã qua sử dụng, thu của bị cáo K.
-Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A71 màu xanh dạng màn hình cảm ứng, thu của bị cáo T vì liên quan đến việc phạm tội.
- Trả lại cho người có quyền lợi liên quan bà Mạc Thị K trú tại xóm T, xã Đ, huyện L, tỉnh Cao Bằng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu nâu đen BKS 11K1-045.62
- Trả lại cho người có quyền lợi liên quan ông Triệu Văn T trú tại xóm Y, xã M, huyện L, tỉnh Cao Bằng 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen BKS 11K1 - 022.47.
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang, theo biên bản ngày 9/8/ 2021.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nông Văn K, Triệu Quang H, Triệu Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Đồng Loan, xã Thắng Lợi, xã Minh Long (bằng TB); - Bị cáo; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nông Văn Phóng |