vanban.org

Bản án 27/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc

đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà QT đối với bà Phạm Thị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 09/07/2021

THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc “V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Khanh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Thị Kim Xuyến. 2. Bà Nguyễn Thị Hiền. - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lệ – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường. Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã KT, LA xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 53/2021/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Ông Hà QT, sinh năm 1982; Địa chỉ : Số 97, ấp Bàu Vuông, xã Thạnh Hưng, thị xã KT, LA. - Bị đơn: Bà Phạm Thị DH, sinh năm 1982; Địa chỉ : Số 97, ấp Bàu Vuông, xã Thạnh Hưng, thị xã KT, LA (ông Tâm có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Hà vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2021 và những lời trình bày của nguyên đơn ông Hà QT có trong hồ sơ như sau: Vào năm 2002, ông và bà Hà quen biết với nhau, hai người kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Hưng, thị xã KT, LA ngày 04/7/2002. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Nay ông Tâm xác định tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục địch hôn nhân không đạt được. Trong thời gian chung sống không có con chung. Nay ông khởi kiện yêu cầu những vấn đề sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà QuanTâm yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị DH. Về con chung: Ông Tâm xác định không có con chung với bà Hà Về tài sản chung, nợ chung: Ông Tâm xác định không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chứng cứ do ông Tâm cung cấp: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Đơn xác nhận nơi cư trú của bà Hà.

Tại các phiên hợp kiểm tra, tiếp cận và công khai chứng cứ thì bà Hà vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ cũng như không cung cấp chứng cứ, tài liệu cho Tòa án xem xét. Tại phiên tòa, bà Hà vắng mặt không có lý do; Ông Tâm có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cũng như ý kiến đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: [1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Hà QT và bà Phạm Thị DH kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Hưng, thị xã KT, LA vào ngày 04/7/2002 nên được xem xét là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nay ông Tâm khởi kiện xin ly hôn là quan hệ pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bị đơn bà Phạm Thị DH, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số 97, ấp Bàu Vuông, xã Thạnh Hưng, thị xã KT, LA nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [1.2] Về việc giải quyết vắng mặt: Bị đơn bà Phạm Thị DH không có lời khai trong hồ sơ và vắng mặt không có lý do nhưng đã được Tòa án đã tống đạt đúng theo thủ tục tố tụng, ông Tâm có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Hà, ông Tâm theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. [1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải. Nguyên đơn có đơn xin không tiến tiến hành hòa giải nên Tòa án đứa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. [2] Về nội dung: [2.1] Về quan hệ hôn nhân giữa ông Hà QT và bà Phạm Thị DH: Xét thấy, trong thời gian vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vơ chồng bất đồng quan điểm và xảy ra cãi vã thường xuyên; Việc bà Hà vắng mặt và không có ý kiến trình bày gửi đến Tòa án thể hiện bà Hà không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào lời trình bày của ông Tâm thì hai bên không còn tôn trọng, QT, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Điều này thể hiện tình nghĩa vợ chồng giữa ông Tâm và bà Hà không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Tâm đối với bà Hà là đúng quy định của pháp luật. [2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông Tâm và bà không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết. [2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Tâm không có yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung; bà Hà vắng mặt không có yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Ông Tâm phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Áp dụng các Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà QT đối với bà Phạm Thị DH về việc “xin ly hôn”. - Ông Hà QT được ly hôn với bà Phạm Thị DH. 2. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này. 3. Về án phí: Buộc ông Hà QT phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước, chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông Hà QT đã nộp theo biên lai số 0009645 ngày 26 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường sang thi hành án phí. Ông Hà QT đã nộp đủ. 4. Án xử công khai sơ thẩm các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ