vanban.org

Bản án 27/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn Mạnh - Phạm Thị Hồng"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!BẢO!THẮNG!
TỈNH!LÀO!CAI!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST
Ngày 08 - 6 - 2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BẢO!THẮNG!

!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lìn Thị Lài."

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Trần Thị Huệ.

2. Ông Nguyễn Mạnh Tuấn.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn:"Anh"Trần"Văn"M"-"Sinh"năm"1991." "

Địa"chỉ:"Thôn"Soi"Cờ,"xã"Gia"Phú,"huyện"Bảo"Thắng,"Lào"Cai""-"có"mặt." "

2."Bị"đơn:"Chị"Phạm"Thị"Hồng"-"Sinh"năm"1992." """""""""""""""""""""""""""

""""""""""Địa"chỉ:"Thôn"Soi"Cờ,"xã"Gia"Phú,"huyện"Bảo"Thắng,"Lào"Cai"-"Vắng"mặt." "

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:! !

Theo đơn khởi kiện ngày 31/12/2020 và bản tự khai ngày 11/01/2021 cũng như tại phiên tòa, anh Trần Văn M trình bầy: Anh và chị Phạm Thị Hồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 06/02/2015, tại UBND xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra xô sát cãi nhau, khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng anh đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn của vợ chồng anh không khắc phục được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Thực tế vợ chồng anh vẫn sống cùng nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị Hồng.

Về! con! chung: Quá trình chung sống chúng vợ chồng anh có một con chung là cháu Trần Đăng Khoa, sinh ngày 03/11/2015, hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng vợ chồng anh, khi ly hôn anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Khoa, anh không yêu cầu chị Hồng cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về!tài!sản!chung:!Vợ chồng anh không có tài sản chung, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. !

Về!công!nợ!chung:!Vợ chồng!anh không vay nợ ai và cũng không cho ai nợ nần gì nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Phạm Thị Hồng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho chị Hồng được, do chị không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Hồng đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án.

Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vì vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng đã xác định: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo trình tự pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.

Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Văn M.

Xử cho anh Trần Văn M ly hôn chị Phạm Thị Hồng; Xử giao cháu Trần Đăng Khoa, sinh ngày 03/11/2015, cho anh Trần Văn M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị Hồng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn M khởi kiện xin ly hôn với chị Phạm Thị Hồng đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, anh Trần Văn M và chị Phạm Thị Hồng đều có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Soi Cờ, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn M và chị Phạm Thị Hồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra xô sát cãi nhau, khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng anh đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn của vợ chồng anh không khắc phục được. Thực tế vợ chồng anh vẫn sống cùng nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Tại phiên toà hôm nay, anh Trần Văn M giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị Phạm Thị Hồng.

Đối với chị Phạm Thị Hồng vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho chị Hồng được, vì trong quá trình giải quyết vụ án chị không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Hồng đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án, vì vậy cần xem xét giải quyết vắng mặt chị Hồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, việc anh Trần Văn M xin ly hôn với chị Phạm Thị Hồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh Trần Văn M và chị Phạm Thị Hồng có một con chung là Trần Đăng Khoa, sinh ngày 03/11/2015. Tại phiên tòa hôm nay anh Mạnh vẫn giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khoa, anh không yêu cầu chị Hồng cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Mạnh cung cấp chứng cứ là bản sao kê tiền lương do Công ty TNHHMTV Hóa Chất Đức Giang chi trả qua Ngân hàng Công thương Việt Nam - Chi nhánh Lào Cai là 10.605.000 đồng/tháng. Vì vậy xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của anh Mạnh là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Khoa cho anh Mạnh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Mạnh không yêu cầu chị Hồng cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Anh Mạnh xác nhận vợ chồng anh không có tài sản chung, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Anh Mạnh xác nhận vợ chồng anh không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn anh không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử cho anh Trần Văn M ly hôn với chị Phạm Thị Hồng.

2. Về con chung: Xử giao cháu Trần Đăng Khoa, sinh ngày 03/11/2015, cho anh Trần Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị Hồng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Hồng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Trần Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002712 ngày 11/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Anh Trần Văn M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ