- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyen Van L phạm tội Tang trữ trái phép chât ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình s…"
- Tòa quyết gì? * Tuyến bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TP H -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 27/2020/HSST Ngày: 10/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- THÀNH PHỐ H
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Thọ
Ông Trương Văn Minh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa- Cán bộ TAND huyện T, thành phố H. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2020/HSST ngày 24/02/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L sinh năm 1968; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn P, xã L, huyện T, thành phố H; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Con ông Nguyễn Văn L, con bà Nguyễn Thị N, có vợ là Nguyễn Thị T, có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1998; Tiền án tiền sự: Ngày 25/06/2004, Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt bị cáo 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 7 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 14 năm tù. (Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 29/01/2015)(Danh chỉ bản số 10 lập ngày 26/11/2019, tại Công an huyện T); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2019, tạm giam từ ngày 02/12/2019, hiện đang tạm giam- có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h 30 ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại khu vực đường Cầu Bươu, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố H, công an đồn Cầu Bươu, công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của L 01 túi linong bên trong chứa tinh thể màu trắng qua giám định là Methamphetamine có khối lượng 2,957g và 01 gói giấy trắng bên trong chứa chất bột màu trắng qua giám định là Heroin có khối lượng 0,028g cùng 01 xe mô tô Honda BKS 29H9- 1698, 01 ví da màu nâu đen trong có 01 thẻ thanh toán Plus số 9704033853081074 của ngân hàng Sacombank, 01 thẻ điều trị số 000556 của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội, 01 thẻ điều trị Methadone số 311, 01 chứng minh thư nhân dân số 001068004636 đều mang tên Nguyễn Văn Lvà số tiền 765. 000đ
Nguyễn Văn L khai: Khoảng 13h 50 ngày 22/11/2019, Nguyễn Ngọc C điều khiển xe máy Honda Dream BKS 29H9-1968 chở Nguyễn Văn L đến trung tâm phòng chống dịch bệnh Hà Nội tại phường H, quận H, thành phố H để uống thuốc Methadone. Khi đến khi vực Cầu Tó, xã T, huyện T, thành phố H thì L bảo C dừng xe, chờ L. Sau đó L đi bộ về phía sau chỗ C dừng xe khoảng 5 -6m để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây L mua 1 gói ma túy đá của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000đ và được người đàn ông này cho một gói Heroin. Mua xong L để số ma túy này trong ví và cất tại túi quần phía trước bên trái L đang mặc rồi quay lại nơi C đang đợi và C tiếp tục chở L đi đến rung tâm phòng chống dịch bệnh Hà Nội, khi đến khu vực Cầu Bươu, thuộc thôn Y, xã T, huyện T, thành phố H thì công an đồn Cầu Bươu, công an huyện T kiểm tra bắt giữ và thu giữ những tang vật trên
Chiếc xe mô tô BKS 29H9-1698 là của ông Nguyễn Tiến Đ, bố đẻ của C, ông Đ cho C mượn xe, không biết C chở L đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Đ. C không biết L đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra, công an huyện T không xử lý.
Tại bản áo trạng số 20/CT-VKSTT ngày 21/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố Nguyễn Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận ngày 22/11/2019 tàng trữ trái phép 2,957g Methamphetamine và 0,028g Heroin. Bị cáo ăn năn hối cải đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo xin được nhận lại những tài sản cơ quan điều tra thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 -22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu 2,720g Methamphetamine và 0,020g Heroin còn lại sau giám định. Trả lại bị cáo 01 ví da màu nâu đen, 01 thẻ thanh toán Plus số 9704033853081074 của ngân hàng Sacombank, 01 thẻ điều trị số 000556 của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội, 01 thẻ điều trị Methadone số 311, 01 chứng minh thư nhân dân số 001068004636 tất cả đều mang tên Nguyễn Văn L và số tiền 765. 000đ nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viện, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án: Đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/11/2019, tại khu vực đường Cầu Bươu thuộc thôn Y, xã T, huyện T, thành phố H, Nguyễn Văn L đã có hành vi cất giữ trái phép 2,957g Methamphetamine và 0,028g Heroin – một chất ma túy độc hại. Với kết quả điều tra chỉ đủ căn cứ chứng minh bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng. Đối chiếu quy định của pháp luật, bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viễn dẫn là có căn cứ pháp lý.
Ma túy là hiểm họa của xã hội bởi ma túy không chỉ là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh chết người- bệnh AIDS, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sồng mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Đấu tranh phòng chống ma túy là trách nhiệm của mọi người. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nguy hiểm của hành vi, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, mặc dù đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cải tạo giáo dục nhưng vẫn tiếp tục phạm tội.
Để trừng trị đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội nhân thân của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi lượng hình có xem xét bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có hoành cảnh gia đình khó khăn để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Xem xét thấy bị cáo không có việc làm, bản thân phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 2,975g Methamphetamine và 0,028g Heroin để thực hiện việc giám định bằng phương pháp phản ứng hóa học, sắc ký lớp mỏng, sắc ký khí (sau khi giám định không thu hồi được số ma túy đã trích), hiện chỉ còn 2,720g Methamphetamine và 0,020g Heroin là một chất độc hại cần tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 ví da màu nâu đen, 01 thẻ thanh toán Plus số 9704033853081074 của ngân hàng Sacombank, 01 thẻ điều trị số 000556 của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội, 01 thẻ điều trị Methadone số 311, 01 chứng minh thư nhân dân số 001068004636 đều mang tên Nguyễn Văn L và số tiền 765.000đ- đây là tài sản của bị cáo không thực hiện vào việc thực hiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án
Chiếc xe mô tô BKS 29H9-1968 là tài sản của ông Nguyễn Tiến Đ, ông Đ cho anh C mượn để sử dụng, không biết C sử dụng xe vào việc chở L đi mua ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe này cho ông Đ là phù hợp quy định của pháp luật. C không biết L đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra, công an huyện T không xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí HSST, được kháng cáo bản án theo ĐIều 136,331,333 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
* Tuyến bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2019
* Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS 2015. Tịch thu tiêu hủy 2,720g Methamphetamine và 0,020g Heroin còn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 ví da màu nâu đen, 01 thẻ thanh toán Plus số 9704033853081074 của ngân hàng Sacombank, 01 thẻ điều trị số 000556 của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội, 01 thẻ điều trị Methadone số 311, 01 chứng minh thư nhân dân số 001068004636 đều mang tên Nguyễn Văn L (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2019) và 765.000đ (theo ủy nhiệm chi số 09 ngày 26/02/2019), nhưng tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thư, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký |