- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HSST Ngày 24 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Khoa Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Minh Thân
Ông Nguyễn Thành Lâm
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hoa - Là Thư ký Tòa án nhân dân hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Đại diện VKSND hu ện Thanh Th tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân hu n Thanh Thủ mở phiên t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2020/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1971, khu 7 xã T, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ĐKHKTT+Chỗ ở hi n nay: Khu 7 xã T, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ văn hoá lớp: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam.
Con ông: Nguyễn Thái H, sinh năm 1942. Con bà: Hà Thị D, sinh năm 1950. Hi n nay đều đang ở khu 11 xã T1, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Vợ: Trần Thị S, sinh năm 1969. Hi n khu 7 xã T, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Con: Có 02 con lớn sinh năm 1992, nhỏ snh năm 1999 Anh, chị em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con thứ 3. Tiền án + Tiền sự: Không. Lịch sử bản thân:
Tại bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995 bị cáo bị Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ) na là hu n Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công d n”.
Tại bản án số 08/HSST ngày 10/4/2006 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủy xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”.
Bị cáo Nguyễn Văn L bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2020, đến ngày 20/01/2020 được tha đổi bi n pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 16/01/2020, tại đường tỉnh lộ 317, đoạn thuộc khu 10, xã Tu Vũ huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Phòng PC08 - Công an tỉnh Phú Thọ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn L - sinh năm 1971, ở khu 7, xã T, huy n Thanh Thủy khi L đang có hành tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bán kiếm lời. Thu giữ của Nguyễn Văn L 01 túi nilon màu trắng, có khuy bầm viền màu đỏ bên trong chưa chất bột cục màu trắng (L khai là ma túy Heroine L tàng trữ để bán) do L tự giác giao nộp cùng 01 ví da màu nâu, bên trong có 1.000.000đ và 01 chứng minh thư nh n d n mang tên Ngu ễn Văn L. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong gói chất bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L, lấy lời khai ban đầu, sau đó giao đối tượng cùng toàn bộ tang vật cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Thủy, Nguyễn Văn L khai nhận: Số ma túy Phòng PC08 - Công an tỉnh Phú Thọ thu giữ của L ngày 16/01/2020 tại đường tỉnh lộ 317, đoạn thuộc khu 10, xã Tu Vũ hu n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ là ma túy Heroin, L mua của một người nam giới không rõ tên tuổi địa chỉ tại khu vực cầu Cứng thuộc địa phận thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình với giá 5.000.000đ. Sau đó L mang số ma túy trên về huy n Thanh Thủy với mục đích nếu gặp người nào cần mua sẽ bán lại để hưởng tiền chênh l ch.
Ngày 16/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Thủ đã ra Quyết định số 13 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định chất bột cục màu trắng trong 01 túi ni-long có khuy bấm viền màu đỏ thu giữ của Trần Văn L. Tại bản Kết luận giám định số 179/KLGĐ ngà 20/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Mẫu chất bột cục màu trắng trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 3,530 gam, loại: Heroine”.
Hoàn trả lại 2,318 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong.
Căn cứ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L, ngày 20/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Thủ đã ra qu ết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tú ” theo Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra, nội dung vụ án được làm rõ như sau:
Nguyễn Văn L - Sinh năm 1971, ở khu 7, xã T, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ là đối tượng nghi n ma tú , để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu sài cá nhân, L đã nả sinh ý định mua ma túy ở thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình rồi mang về huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ để bán kiếm lời. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 16/01/2020, L thuê xe ôm của một người L không biết tên tuổi, địa chỉ đi đến khu vực Cầu Cứng – thành phố Hòa Bình, tỉnh H a Bình để tìm mua ma túy. Tại đ L mua được của một người nam giới (L không biết tên tuổi địa chỉ) 01 gói ma túy Heroine với giá 5.000.000đ có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng, có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột cục màu trắng. Sau đó, L tiếp tục thuê xe ôm của một người L không biết tên tên tuổi, địa chỉ mang theo gói ma túy về huy n Thanh Thủ . Khi người lái xe ôm chở L đi đến đoạn đường tỉnh lộ 317 thuộc khu 10, xã Tu Vũ, hu n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác phòng PC08 - Công an tỉnh Phú Thọ chặn lại kiểm tra. Người lái xe ôm qua đầu xe bỏ chạy, còn L bị lực lượng Công an tỉnh Phú Thọ giữ lại. Biết hành vi tàng trữ chất ma tú trong người của mình là vi phạm pháp luật nên L đã tự nguy n giao nộp cho Cơ quan Công an 01 túi nilon màu trắng, có khuy bầm viền màu đỏ bên trong chưa chất bột cục màu trắng (là gói ma túy L vừa mua ỏ thành phố Hòa Bình).
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn L đã 02 lần bị Tòa án xét xử, cụ thể: Tại bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995, bị Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ) xử phạt 4 năm tù về tội “Cướp tài sản của công d n”; Tại bản án số 08/HSST ngày 10/4/2006, bị Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủy xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”. Qua quá trình xác minh thể hi n, ngày 15/6/2008 L đã chấp hành xong hình phạt của Bản án số 08/HSST ngày 10/4/2006 của Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủ đồng thời đã thực hi n nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm xong vào ngà 13/6/2011. Do đó tính đến thời điểm L thực hi n hành vi phạm tội trong vụ án này L đã được xóa án tích đối với Bản án số 08/HSST ngày 10/4/2006 của Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủ . Riêng đối với Bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995 của Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ), qua quá trình xác minh xác định do thời gian đã l u, hồ sơ về vi c thi hành án đối với bản án trên của Nguyễn Văn L đã bị thất lạc, không tra cứu được. Do đó, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, xác định L đã được xóa án tính đối với Bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995 của Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ). Do vậy, trong vụ án này, L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào. Mặt khác, quá trình điều tra L đã thành khẩn khai báo, thể hi n thái độ ăn năn hối cái do đó L được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" qu định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy L tàng trữ với mục đích để bán, L khai mua của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực Cầu Cứng - thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Ngoài lời khai của L thì không có chứng cứ khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủ không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối người nam giới làm nghề lái xe ôm đưa Ngu ễn Văn L từ nhà đến khu vực Cầu Cứng - thành phố Hòa Bình, tỉnh H a Bình để mua ma tú và đưa L về huy n Thanh Thủy. L khai nhận chỉ biết người nam giới này làm nghề lái xe ôm, không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể cũng như không nhớ biển kiểm soát xe mô tô người nà điều khiển. Quá trình bị Lực lượng Công an phòng PC08 - Công an tỉnh Phú Thọ kiểm tra, người nã đã điều khiển xe mô tô chạ thoát. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủ không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Các vật chứng của vụ án gồm: 01 ví giả da màu nâu; số tiền 1.000.000đ; 01 chứng minh thư nh n d n mang tên Ngu ễn Văn L; 01 bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau khi giám định bên trong có 2,318g chất bột cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Bản cáo trạng số: 28/CT - VKSTT ngày 12 tháng 5 năm 2020, của Vi n kiểm sát nhân dân hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ tru tố bị cáo Ngu ễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qu định tại Khoản 1 Điều 251- Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm na Kiểm sát viên - Vi n kiểm sát nh n d n hu n Thanh Thủ vẫn giữ ngu ên quan điểm tru tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tu ên bố bị cáo Ngu ễn Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngu ễn Văn L từ 24 năm đến 30 tháng tù. Được khấu trừ 04 ngà tạm giữ từ ngà 16/01/2020, đến ngày 20/01/2020. Thời hạn tù tính từ ngà bị cáo đi thi hành án.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo qu định tại Khoản 5 Điều 251 – BLHS cho bị cáo Ngu ễn Văn L.
Xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu bì giấ số 179/KLGĐ ngày 20/01/2020 được hoàn lại sau giám định có 2,318 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 bì giấ có đóng 05 hình dấu tr n màu đỏ của Ph ng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ tại các vị trí mép dán để tiêu hủ .
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn L 01 chứng minh thư nh n d n mang tên Ngu ễn Văn L; 01 chiếc ví giả da mầu n u. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngà 24/6/2020 tại Chi cục Thi hành án d n sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn L số tiền 1.000.000đ (Một tri u đồng) do Công an hu n Thanh Thủ chu ển vào tài khoản số: 3949.01054405.00000 của Chi cục Thi hành án D n sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu và chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ngu ễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n hu n Thanh Thủ đã tru tố, không oan sai. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với vật chứng thu được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 16/01/2020 tại khu 10 xã Tu Vũ, hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ bị cáo Ngu ễn Văn L sinh năm 1971, ở khu 7 xã T, hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ, đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Hrroine có khối lượng 3,530 gam nhằm mục đích để bán kiếm lời, đã bị Phòng PC08 - Công an tỉnh Phú Thọ kiểm tra phát hi n và bắt giữ quả tang. Hành vi của bị cáo Ngu ễn Văn L là hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cần xử lý theo qu định tại Khoản 1 Điều 251 - Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 qu định:
1." Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Xét thấ tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo Ngu ễn Văn L là ngu hiểm cho xã hội, bị cáoL đã trực tiếp x m phạm đến chính sách độc qu ền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Trong xã hội hi n na số lượng người sử dụng ma tú đang có chiều hướng ra tăng, ở nhiều độ tuổi khác nhau. Do vậ Đảng và Nhà nước ta đang có nhiều bi n pháp tu ên tru ền, giáo dục, đấu tranh ngăn chặn không để t nạn ma tú l lan trong xã hội. Mặc dù T a án đã đưa ra xét xử nhiều vụ án về vi c mua, bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tú để nhằm tu ên tru ền, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Hành vi mua bán trái phép chất ma tú của bị cáo Ngu ễn Văn L đã g mất trật tự, an ninh chính trị trên địa bàn hu n Thanh Thủ và nơi bị cáo cư trú, ma túy còn là nguyên nh n làm phát sinh nhiều loại tội phạm và b nh tật khác, bị cáo L là người đã trưởng thành, có đầ đủ năng lực pháp luật, nhận thức được vi c mua bán trái phép chất ma túy là bất hợp pháp, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích lợi nhuận nên bị cáo đã coi thường pháp luật, bị cáo đã có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép 3,530 gam ma tú Hrroine với mục đích để bán kiếm lời. Vì vậ , HĐXX cần đưa bị cáo L ra xét xử và có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và ph ng ngừa chung.
Xét về nh n th n của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấ : Trước lần xét xử nà bị cáo Ngu ễn Văn L đã 02 lần bị T a án xét xử. Tại bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995 bị Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ) na là huy n Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công d n”. Tại bản án số 08/ HSST ngày 10/4/2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủy xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”. Theo xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủy thì ngày 15/6/2008 bị cáo L đã chấp hành xong hình phạt của bản án số 08/HSST ngày 10/4/2006 của Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủy và nộp tiền án phí ngà 13/6/2011. Do đó tính đến thời điểm phạm tội thì bị cáo L đã được xóa án tích đối với bản án số 08/HSST ngày 10/4/2006 của Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủy. Đối với bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995 bị Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ) na là hu n Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công d n”. Quá trình xác minh, xác định do thời hạn đã l u, hồ sơ về vi c thi hành án đối với bản án trên của bị cáo Ngu ễn Văn L đã bị thất lạc, không tra cứu được. Do đó, áp dụng ngu ên tắc có lợi cho bị cáo, xác định bị cáo L đã được xóa án tích đối với bản án số 11/HSST ngày 29/5/1995 của Tòa án nhân dân huy n Tam Thanh (Cũ). Nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương bị cáo L không chịu tu dưỡng, rèn luy n, lao động làm ăn ch n chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình, bị cáo do ham chơi, đua đ i, không muốn lao động, nhưng lại muốn có tiền hưởng thụ nên bị cáo đã thực hi n hành vi mua, bán trái phép chất ma túy dẫn đến vi phạm pháp luật.
Xong trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn L đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo L được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự qu định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong vụ án nà bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào qu định tại Khoản 1 Điều 52 - BLHS. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và các qu định khác của pháp luật. Bị cáo L mắc b nh HIV/AIDS phải điều trị tại Trung t m kiểm soát b nh tật từ năm 2009 tại B nh vi n Đa khoa Sơn T , thành phố Hà Nội và hi n na đang điều trị tại Trung t m tế hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ có xác nhận của Trung t m tế nơi bị cáo điều trị. HĐXX thấ rằng cần xử phạt bị cáo L hình phạt tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật đã qu định để bị cáo lao động, cải tạo trở thành người công d n sống có ích cho gia đình và xã hội.
Theo qu định tại Khoản 5 Điều 251- BLHS thì bị cáo L c n có thể phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhi m chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Theo xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an hu n Thanh Thủ , bị cáo L làm nghề lao động tự do. Tu nhiên vi c làm, thu nhập không ổn định, bản th n bị cáo ốm đau b nh tật sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L là phù hợp.
Về nguồn gốc ma tú bị cáo L tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời bị Công an thu giữ, bị cáo khai đã mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực Cầu Cứng thành phố H a Bình, tỉnh H a Bình. Ngoài lời khai của bị cáo L không có chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra Công an hu n Thanh Thủ không có căn cứ để xác minh làm rõ người nam giới đó để sử lý trong vụ án nà .
Đối với người nam giới làm nghề lái xe ôm đưa bị cáo nguyễn Văn L từ nhà đến khu vực Cầu Cứng thành phố H a Bình, tỉnh H a Bình để mua ma tú và đưa bị cáo L về hu n Thanh Thủ . Tu nhiên bị cáo L khai chỉ biết người nà làm nghề lái xe ôm, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và bị cáo không nhớ rõ biển số xe mô tô của người nà . Quá trình bị Lực lượng Công an ph ng PC08 – Công an tỉnh Phú Thọ kiểm tra người nam giới nà đã chạ thoát. Do đó, Cơ quan điều tra Công an hu n Thanh Thủ không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với 01 chứng minh thư nh n d n; 01 chiếc ví giả da màu n u và số tiền 1.000.000đ của bị cáo L đã bị Công an thu giữ không liên quan gì đến hành vi phạm tội na được trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng.
Xử lý vật chứng vụ án:
Tịch thu bì giấ số 179/KLGĐ ngà 20/01/2020 được hoàn lại sau giám định Gồm có 2,318 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 bì giấ có đóng 05 hình dấu tr n màu đỏ của Ph ng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ tại các mép dán để tiêu hủ .
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn L 01 chứng minh thư nh n d n mang tên Ngu ễn Văn L; 01 chiếc ví giả da mầu n u. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngà 24/6/2020 tại Chi cục Thi hành án d n sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn L số tiền 1.000.000đ (Một tri u đồng) do Công an hu n Thanh Thủ chu ển vào tài khoản số: 3949.01054405.00000 của Chi cục Thi hành án D n sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Về án phí hình sự: Bị cáo Ngu ễn Văn L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo theo qu định của pháp luật.
Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Ngu ễn Văn L 24 (Hai bốn) tháng tù. Được khấu trừ 04 ngà tạm giữ từ ngà 16/01/2020 đến ngày 20/01/2020. Thời hạn tù tính từ ngà bị cáo đi thi hành án.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo qu định tại Khoản 5 Điều 251 – BLHS cho bị cáo Ngu ễn Văn L.
Xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu bì giấ số 179/KLGĐ ngà 20/01/2020 được hoàn lại sau giám định. Gồm có 2,318 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 bì giấ có đóng 05 hình dấu tr n màu đỏ của Ph ng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ tại các vị trí mép dán để tiêu hủ .
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn L 01 chứng minh thư nh n d n mang tên Ngu ễn Văn L; 01 chiếc ví giả da mầu n u. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngà 24/6/2020 tại Chi cục Thi hành án d n sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn L số tiền 1.000.000đ (Một tri u đồng) do Công an hu n Thanh Thủ chu ển vào tài khoản số: 3949.01054405.00000 của Chi cục Thi hành án D n sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
Án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH 14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội. Qu định về mức thu án phí, l phí T a án.
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huy n, VKSND tỉnh - CA huy n - THAHS huy n - Sở Tư pháp - Chi cục THADS huy n - UBND xã T - Bị cáo - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Khoa Hương |