vanban.org

Bản án 27/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, mũi nhọn, tay cầm màu đỏ đã qua sử dụng; 01 máy tính tiền hiệu Pos System, model W1401, số: FCC ID: 2AHW1403 màu đen, màn hình bị bể,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HS-ST
Ngày: 27-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Tuyết Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Võ Hoàng Vũ.

- Bà Bùi Mỹ Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN PHÙNG BẢO T, sinh năm 1986 tại C. Nơi cư trú: 379Z/9 tổ C, khu vực B, phường A, quận N, thành phố C; nghề nghiệp: Điều dưỡng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (sống) và bà Phùng Bạch T (sống); có 01 người em; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thế H. Địa chỉ: 88 T, phường A, quận B, thành phố C. (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T. Địa chỉ: 79 N, phường A, quận N, thành phố C. (có mặt).

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Tuyết N. Địa chỉ: khu vực B, phường A, quận N, thành phố C. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Thế H có thuê mặt bằng của gia đình ông Nguyễn Minh T tại địa chỉ số 60 N, phường A, quận N, thành phố C để kinh doanh quán ăn tên “A H”.

Khoảng 22 giờ ngày 10-11-2018, ông T đến quán ăn “A H” gặp ông H để đòi tiền thuê mặt bằng. Trong lúc nói chuyện giữa T và ông H xảy ra xô xát: T dùng nón bảo hiểm đánh vào người ông H; ông H dùng kéo đâm trúng bàn tay phải của T. Được mọi người can ngăn nên T bỏ về nhà. Lúc này, bà Nguyễn Thị Tuyết N (em ruột của T) đang đi dự tiệc cùng Nguyễn Phùng Bảo T tại phường A, quận N nhận được điện thoại thông báo ông T bị người khác đánh nên cùng với T và 02 người khác chưa rõ lai lịch đến quán “A H” tìm ông H nói chuyện. Trong lúc nói chuyện qua lại thì 02 bên xảy ra cự cãi, T tức giận dùng tay và chân đạp vào 01 máy tính tiền tại quầy thu ngân của quán rơi xuống trúng bàn có 02 tấm kính thủy tinh làm 02 tấm kính vỡ nhiều mảnh. Riêng máy tính tiền cũng hư hỏng không sử dụng được. Sau đó, T, N và bạn bỏ đi khỏi quán. Ông H phát hiện tài sản của mình bị hư hỏng nên đến công an phường A trình báo.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cây kéo bằng kim loại, mũi nhọn, tay cầm màu đỏ, đã qua sử dụng;

- 01 máy tính tiền hiệu Pos System, model W1401, số: FCC ID: 2AHW1403, màu đen, màn hình bị bể, đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1236/BKL-HĐĐG ngày 28-11-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận N kết luận: Chi phí khắc phục 01 máy tính tiền là 3.000.000đồng; 02 tấm kính là 1.929.600đồng, tổng cộng là 4.929.600đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Phùng Bảo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với việc ông Nguyễn Minh T dùng nón bảo hiểm đánh vào người ông Nguyễn Thế Hùng và việc ông Hùng dùng kéo đâm trúng bàn tay phải của ông T. Do cả ông T và ông Hùng đều làm đơn không yêu cầu khởi tố và từ chối giám định thương tích nên không có cơ sở xử lý hình sự. Do đó, Cơ quan điều tra đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh T và Nguyễn Thế H về hành vi “Đánh nhau” theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Phùng Bảo T đã bồi thường số tiền 7.000.000đồng. Ông Hùng đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 31/CT-VKSNK ngày 17-01-2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận N truy tố bị cáo Nguyễn Phùng Bảo T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt BLHS 2015).

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội:

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản như nội dung cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; khoản 1 Điều 178 BLHS 2015 tuyên bố bị cáo Nguyễn Phùng Bảo T phạm tội “Hủy hoại tài sản”, xử phạt bị cáo số tiền từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, mũi nhọn, tay cầm màu đỏ; 01 máy tính tiền hiệu Pos System màu đen, màn hình bị bể bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Vào ngày 10-11-2018 Nguyễn Phùng Bảo T đã có hành vi dùng tay và chân đạp vào máy tính tiền tại quầy thu ngân của quán ăn tên “A H” tại địa chỉ 60 N, phường A, quận N, thành phố C rơi xuống đất trúng bàn làm vỡ 02 tấm kính, máy tính tiền bị hư hỏng không sử dụng được. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1236 ngày 28-11-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận N kết luận: Chi phí khắc phục 01 máy tính tiền là 3.000.000đồng; 02 tấm kính là 1.929.600đồng, tổng cộng là 4.929.600đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS 2015.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có giấy khen trong quá trình công tác nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội:

Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực pháp luật, là Đảng viên công tác trong ngành y do nhất thời nóng giận đã làm hư hỏng tài sản của người khác nên cần có mức án tương xứng để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để bị cáo thấy được hành vi sai trái của bản thân. Từ nhận định này, thấy rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của BLHS 2015 là có căn cứ, việc đề nghị hình phạt trên cơ sở xem xét các căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp, thỏa đáng với toàn bộ diễn biến hành vi bị cáo thực hiện.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 178 BLHS 2015 tuyên bố bị cáo Nguyễn Phùng Bảo T phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng Bảo T 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, mũi nhọn, tay cầm màu đỏ đã qua sử dụng; 01 máy tính tiền hiệu Pos System, model W1401, số: FCC ID: 2AHW1403 màu đen, màn hình bị bể, đã qua sử dụng.

(Tang vật do Chi cục Thi hành án quận N đang quản lý).

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ