- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị L ghi số lô, số đề - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HS-ST. Ngày: 24-7-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mạc Văn Dũng và bà Phạm Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2020/TLST-HS, ngày 26/6/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2020/QĐXXST-HS, ngày 13/7/2020, đối với bị cáo:
- TRẦN THỊ L, sinh năm 1964, tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thị trấn H, huyện H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Bùi Thị T; bị cáo không có chồng và có một con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2020 đến ngày 16/5/2020 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Vũ Bá K, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền để chi tiêu cá nhân, nên Trần Thị L đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề được thua bằng tiền. Vào hồi 16 giờ 10 phút, ngày 12/5/2020 tại nơi ở của L thuộc địa phận khu 6, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hải Dương, L đã có hành vi ghi số lô (41, 45, 42) x 1.000.000đ (mỗi một số là 1.000.000đ) cho anh Phạm Văn T1, sinh năm 1990 ở thôn 3, xã X, huyện H, tỉnh Hải Dương được 3.000.000đ và ghi các số đề (24, 72) x 100.000đ (mỗi một số là 100.000đ), các số lô (24, 72) x 1.000.000đ (mỗi một số là 1.000.000đ) cho anh Vũ Bá Khắc, sinh năm 1979 ở thôn C, xã V, huyện H, tỉnh Hải Dương thì bị phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của L số tiền 5.200.000đ; 01 bút bi nhãn hiệu Thiên Long, mực viết màu đen và một mảnh giấy (từ tờ lịch) bên trong có ghi số lô, số đề; thu giữ của anh K 01 mảnh giấy (từ tờ lịch) bên trong có ghi số lô, số đề; thu giữ của anh T1 01 mảnh giấy (từ tờ lịch) bên trong có ghi số lô.
Hình thức đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề như sau: Đối với số lô, số đề thì người chơi chọn một số tự nhiên bất kỳ gồm hai hoặc ba chữ số so với hai và ba số cuối của kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày. Số đề là so với hai và ba số cuối của giải đặc biệt; số lô là so với 07 giải gồm 27 lần quay. L thỏa thuận với người mua số lô, số đề như sau: Nếu trúng số đề thì L trả cho người chơi số tiền tương ứng theo tỷ lệ số tiền x 70 lần; trúng số lô thì L trả cho người chơi số tiền tương ứng theo tỷ lệ số tiền x 3,5 lần (nếu người chơi mua số lô mà trúng nhiều giải thì được nhân theo tỷ lệ trên).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 25/6/2020 VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Thị L về tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội Đánh bạc. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo L từ 08 đến 10 tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ 05 ngày tạm giữ quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ (12/5/2020 đến ngày 16/5/2020) thời hạn tính từ ngày UBND thị trấn H nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án; giao bị cáo cho UBND thị trấn H giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt. Khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo từ 5% đến 10% thu nhập/tháng, trong thời gian chấp hành hình phạt, sung quỹ nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.200.000đ; tịch thu cho tiêu hủy: Một một chiếc bút bi, viết mực màu đen, nhãn hiệu Thiên Long. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 12/5/2020 tại nơi ở của Trần Thị L thuộc địa phận khu 6, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hải Dương; Trần Thị L có hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền, bằng hình thức ghi số lô, số đề cho các anh Phạm Văn T1, Vũ Bá K thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ số tiền 5.200.000đ dùng vào việc đánh bạc.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, trị an xã hội, nếp sống văn minh, trong khi đó bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng với mục đích muốn có tiền nhưng lại không chịu lao động chân chính, nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tổng số tiền thu giữ được của Trần Thị L là 5.200.000đ được sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số tiền đánh bạc trái phép nêu trên. Vì vậy hành vi của Trần Thị L đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc, được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xác định bị cáo L là người có nhân thân tốt; trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xác định quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi lượng hình thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xác định bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội, nên áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ là phù hợp nhưng bị cáo phải bị khấu trừ thu nhập hàng tháng ở mức 10%/tháng trong thời gian áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L phạm tội với động cơ vụ lợi, tuy nhiên xét điều kiện hoàn cảnh gia đình, kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo là phụ nữ, nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không đáng kể. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 5.200.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với một chiếc bút bi nhãn hiêu Thiên Long, viết mực màu đen, xét đây là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Thị L bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác đối với vụ án:
- Đối với anh Phạm Văn T1 là người sử dụng số tiền 3.000.000đ và anh Vũ Bá K sử dụng 2.200.000đ để đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số lô, số đề với bị cáo L nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc. Vì vậy Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh K là đúng pháp luật. Đối với anh T1 quá trình điều tra không làm rõ được tên tuổi, địa chỉ nên chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
- Đối với ông Trần Văn B, sinh năm 1958 ở khu 6, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hải Dương (là anh trai bị cáo), không biết việc L sử dụng nơi ở của mình vào việc đánh bạc. Vì vậy không phải đặt ra để xử lý.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Trần Thị L.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội Đánh bạc.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị L 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ 05 (năm) ngày tạm giữ, quy đổi bằng 15 ngày Cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 15 (mười lăm) ngày Cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo Trần Thị L trong thời gian chấp hành hình phạt để sung quỹ nhà nước.
Giao bị cáo Trần Thị L cho UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo L có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.200.000đ, là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Tịch thu cho tiêu hủy: Một một chiếc bút bi, viết mực màu đen, nhãn hiệu Thiên Long.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 02/7/2020.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Thị L phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Thanh Hà; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Công an huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |