- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HS-ST Ngày: 24 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quốc Định và bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Duy Thường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Công Lý, Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1990, tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn N và bà Nguyễn Thị T1; vợ: Trương Thị Thu T2 (hiện đã bỏ đi khỏi địa phương); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
- Về nhân thân: Ngày 03/4/2015 Trần Văn T bị Công an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt hành chính cảnh cáo vì có hành vi mua số lô, số đề.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2020 cho đến nay; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Đăng T3 và anh Nguyễn Văn T4; đều vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 26/3/2020, Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã T đang tuần tra tại khu vực đê sông Hồng thuộc thôn Hoàng Xuyên, xã Trần Hưng Đạo thì phát hiện Trần Văn T bỏ chạy và có dấu hiệu nghi vấn. Lực lượng Công an đã giữ T để kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần dài của T đang mặc 01 chiếc xi lanh nhựa, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung có ốp nhựa, bên trong ốp nhựa có 01 gói giấy màu xanh, bên trong có chất bột dạng cục, T khai là ma tuý mua về sử dụng và số tiền 340.000 đồng. Toàn bộ vật chứng được lập biên bản thu giữ và niêm phong theo quy định.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T, cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 52/PC09-MT, ngày 30/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận:
“- 01 xi lanh màu trắng có kim tiêm và nắp đậy trong phong bì ký hiệu VC2 gửi giám định không bám dính Heroin.
- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu VC4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,189g (Không phẩy một trăm tám mươi chín gam), loại Heroine”.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn làm rõ Trần Văn T còn thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản; cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng đầu tháng 03/2020 Trần Văn T cùng Đào Duy S, sinh năm 1990; trú tại: Thôn 5, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam và Trương Văn G sinh năm 1990; trú tại: Thôn 1, xã B, huyện L lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu HonDa, BKS 90B1-257.04 tại thôn Văn Bút, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sau khi trộm cắp được tài sản, T, S và G đã bán chiếc xe trên cho anh Trương Tất Đ, sinh năm 1995; trú tại: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam.
- Vụ thứ hai: Đêm 26 rạng sáng ngày 27/02/2020, Trần Văn T và Đào Duy S lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 89K1-4931 tại xã Hoàng Hanh, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Sau đó T mang xe về bán cho anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1977; trú tại: Thôn T, xã T, huyện L. Ngày 30/3/2020 anh H đã tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cho Công an huyện Lý Nhân.
- Vụ thứ ba: Chiều ngày 01/3/2020 Trần Văn T cùng Đào Duy S lấy trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 89L3-3402 tại thôn Viên Tiêu, xã Tân Hưng, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Sau đó T mang chiếc xe trên đi bán cho ông Trương Công C, sinh năm 1958; trú tại: Thôn 2, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam. Ngày 31/3/2020 ông C đã tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cho cơ quan điều tra Công an huyện Lý Nhân.
- Vụ thứ tư: Ngày 24/3/2020 Trần Văn T cùng Đào Duy S và Trương Quang G lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 17N2-4782 tại xã Đồng Thanh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Sau đó cả ba mang chiếc xe trên đi bán cho Trương Tất Đ được 3.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKS, ngày 08/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng và án phí vụ án.
- Bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma tuý; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/3/2020, tại khu vực đê sông Hồng thuộc thôn Hoàng, xã Trần Hưng Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma tuý, có khối lượng 0,189g (Không phẩy một trăm tám mươi chín gam), loại Heroine để sử dụng. Hành vi nêu trên của Trần Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Trên địa bàn huyện Lý Nhân trong thời gian gần đây tội phạm về ma túy không giảm mà có chiều hướng gia tăng về số vụ, tính chất phức tạp hơn. Để có tác dụng phòng, chống và đẩy lùi loại tội phạm này, Toà án đã phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền địa phương đưa vụ án ra xét xử lưu động để nhằm tuyên truyền về tác hại của ma túy đối với người dân và toàn xã hội.
Đối với Trần Văn T khi áp dụng hình phạt cũng xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
- Về nhân thân: Ngày 03/4/2015 Trần Văn T bị Công an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt hành chính cảnh cáo vì có hành vi mua số lô, số đề.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Trần Văn T đã nhiều lần cùng các đối tượng khác trộm cắp tài sản ở nhiều địa phương khác nhau; hiện nay đang bị các cơ quan điều tra nơi bị cáo thực hiện tội phạm điều tra, giải quyết theo thẩm quyền. Đây cũng là tình tiết cần xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên xem xét cho bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội không có mục đích kiếm lời, bản thân nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định và một chiếc bơm kim tiêm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với một chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung và số tiền 340.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án dân sự.
Về các vấn đề khác:
- Trần Văn T cùng các đối tương Đào Duy S và Trương Quang G đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản ở nhiều địa bàn khác nhau. Công an huyện Lý Nhân đã thông báo, chuyển các tài liệu có liên quan đến Công an thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam và phối hợp với Công an thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; Công an thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên; Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để điều tra theo thẩm quyền.
- Đối với nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ, Trần Văn T khai nhận mua của một người đàn ông tên H, tại khu vực chợ C, xã N, huyện L. Ngoài lời khai của T không có thông tin về đối tượng cũng như tài liệu, chứng cứ khác nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 89K1-4931 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 89L3-3402 do anh Nguyễn Đức H và ông Trương Công C giao nộp, cơ quan điều tra đã thu giữ cùng giấy tờ và xác định là tang vật của vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại địa bàn thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Công an huyện Lý Nhân tách ra và tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/3/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ khối lượng Heroine hoàn trả sau giám định và 01 bơm kim tiêm, được niêm phong trong phong bì số 52/PC09-MT của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam ghi “Mẫu vật hoàn trả VC2, VC4”.
- Trả lại cho Trần Văn T: 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung và số tiền 340.000 (Ba trăm bốn mươi nghìn) đồng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án dân sự.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng cụ thể như biên bản bàn giao vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện L ngày 8/6/2020 và Uỷ nhiệm chi số 09 ngày 08/6/2020).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - Viện kiểm sát tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện L; - Cổng TTĐT Toà án; - Bị cáo. - Lưu: Hồ sơ + văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đỗ Quốc Huy |