- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thành T vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------ Bản án số:27/2020/HS-ST Ngày:29/5/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Q.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công H, ông Nguyễn Đình P.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị H - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh N tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2020/TLST- HS ngày 07 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Thành T sinh năm 2001 tại xã L, huyện G, tỉnh N, tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Xóm 10, xã L, huyện G, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Sinh viên, trình độ văn hóa: 12/12, con ông Vũ Văn T và bà Vũ Thị P; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Bùi Văn V, sinh năm 1954(đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Xuân L, sinh năm 1966. Có mặt.
Trú tại: Xóm 1, xã L, huyện G, tỉnh N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Vũ Thanh T, sinh năm 1991. Có mặt
Trú tại: Xóm 10, xã L, huyện G, tỉnh N.
Người làm chứng: Anh Trần Văn T và chị Đinh Thị G. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thành T có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định của pháp luật. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/01/2020, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 35N1-389.74 đi từ quán lẩu nướng “Oanh Thông” ở đường 477 thôn N, xã G, huyện G theo đường liên xã G – xã L – xã G, để về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm 2, xã L, huyện G. Cùng lúc này, ông Bùi Văn V, sinh năm 1954, trú tại xóm 1, xã L, huyện G đang điều khiển xe máy điện không có biển kiểm soát đi cùng chiều phía trước, do không chú ý quan sát nên khi xe mô tô của T cách xe của ông V khoảng 01m thì T mới phát hiện ra. Do khoảng cách gần, nên phần đầu xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào phía sau xe máy điện, làm xe mô tô và xe máy điện bị đổ ra đường, ông V và T bị ngã xuống đường. Ông V bị hất văng nằm ở mép đường bên trái, xe máy điện đổ nằm ở mép đường bên phải; xe mô tô và T bị đổ nằm ở mép đường bên phải theo hướng đường 477 đi xã Gia Hưng. Sau khi tai nạn xảy ra, T thấy ông V đang nằm ở trên mặt đường, nhưng T không đến kiểm tra tình trạng sức khỏe và đưa ông V đi cấp cứu, mà điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Đến sáng ngày 27/01/2020, khi biết ông V bị tử vong, T đã đến Công an huyện G để đầu thú về hành vi vi phạm của mình. Hậu quả: Ông Bùi Văn V bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N đến ngày 27/01/2020, thì tử vong.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thu thập dấu vết của vụ tai nạn, kết quả xác định cụ thể như sau:
* Về hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn tại đường giao thông liên xã G – xã L – xã Gia Hưng, thuộc địa phận xóm 2, xã L, huyện G, tỉnh N. Mặt đường trải bê tông phẳng, thẳng rộng 5m20. Phía Đông tiếp giáp với cánh đồng ruộng, phía Tây tiếp giáp với mương dẫn nước và cánh đồng ruộng. Hướng khám nghiệm lấy mép đường bên phải đường 477 đi xã Gia Hưng. Lấy cột điện đánh số 53-57/39 tại lưu không phía trái đường theo hướng khám nghiệm làm mốc.
- Xe máy điện không đeo biển kiểm soát (được đánh vị trí số 01) nằm đổ sang phải, đầu xe hướng về phía xã Gia Hưng, đuôi xe hướng ra đường 477. Trục bánh trước xe máy điện cách mép đường bên phải là 1m25 và cách điểm mốc là 10m75, trục bánh sau cách mép đường bên phải là 1m60.
- Vết sạt (được đánh vị trí số 02) có chiều hướng đường 477 – xã Gia Hưng dài là 6m40, nơi rộng nhất là 1m55, điểm đầu vết sạt cách mép đường bên phải là 2m20, điểm cuối vết sạt trùng với T bộ phần thân xe bên phải xe máy điện.
- Vết lết cao su (được đánh vị trí số 03) có chiều hướng Đường 477 – xã Gia Hưng dài là 0m40. Điểm đầu vết lết cao su cách mép đường bên phải là 2m15, điểm cuối vết lết cao su cách mép đường bên phải là 2m20 và cách điểm đầu vết sạt là 0m50.
- Vùng nhựa vỡ (được đánh vị trí số 04) tập trung nhiều tại vị trí xe máy điện, trên diện kích thước (4,5 x 3)m. Tâm vùng nhựa vỡ cách mép đường bên phải là 1m50 và cách đầu trục bánh sau xe máy điện là 0m50.
- Vùng nhựa vỡ (được đánh vị trí số 05) tại lề đường bên trái theo hướng khám nghiệm, trên diện kích thước (0,5 x 0,4)m. Vùng nhựa vỡ cách mép đường bên phải là 5m50, cách điểm mốc là 4m60.
- Vết máu (được đánh vị trí số 06) kích thước (0,4 x 0,5)m. Tâm vết máu cách mép đường bên phải là 3m20, cách trục bánh sau xe máy điện là 3m40.
- Vùng nhựa (được đánh vị trí số 07) kích thước (0,5 x 0,4)m. Tâm vùng nhựa cách tâm vết máu là 1m20, cách trục bánh sau xe máy điện là 4m30. Tâm vùng nhựa cách điểm đầu vết lết cao su là 3m60.
- Mảnh nhựa vỡ màu đỏ (được đánh vị trí số 08) kích thước (0,029 x 0, 036)m. Tâm mảnh nhựa cách trục bánh trước xe máy điện là 1m80, cách mảnh nhựa vỡ (được đánh vị trí số 05) là 1m50.
- Gương chiếu hậu gãy, vỡ mặt kính (được đánh vị trí số 09). Gương chiếu hậu cách mép đường bên phải là 0m30, cách trục bánh sau xe máy điện là 1m30.
* Thu giữ tại hiện trường 01 xe máy điện không biển kiểm soát, 01 mảnh nhựa vỡ màu đỏ kích thước (0,029 x 0,036)m.
* Về khám nghiệm phương tiện
- Xe máy điện không biển kiểm soát:
Đầu tay phanh bên trái có vết sạt, xước kim loại kích thước (0,1 x 0,1)cm, theo chiều từ trước về sau; Giỏ đèo hàng phía trước bị bẹp méo, biến dạng; Bên trái giá đỡ giỏ đèo hàng phía trước có vết sạt, xước kim loại kiểu tì mài kích thước (5 x 1)cm, theo chiều từ trước về sau; Yên xe bị bật nắp, hệ thống củ sạc trong cốp xe bật ra ngoài; Mặt ngoài để chân phía sau bên phải có vết, sạt xước kim loại kích thước (3 x 1)cm, theo chiều từ trước về sau. Để chân phía sau bị cong gập, lệch so với vị trí bình thường là 06cm; Mặt ngoài bên phải ốp bảo vệ đèn xin đường phía sau bên phải có vết sạt, xước nhựa kiểu tì mài kích thước (4 x 8)cm, theo chiều từ trước về sau, nắp bảo vệ đèn xin đường phía sau bên phải bị bật vấu, rời khỏi vị trí bình thường; Đèn báo hãm phanh phía sau đuôi xe bị vỡ rời, không còn nguyên vẹn; Phía dưới ốp bảo vệ xi nhan bên trái phía sau xe bị nứt vỡ nhựa kích thước (8 x 3)cm; Chắn bùn bánh sau bị cong gập, bẹp méo biến dạng không rõ hình kích thước (20 x 13)cm; Thanh sắt đỡ chắn bùn bánh sau cong gập biến dạng không rõ hình, trên bề mặt dính dị vật màu đỏ; Phía trước giá để chân phía sau bên trái có vết sạt xước kim loại kích thước (3 x 0,1)cm, trên bề mặt dính dị vật màu trắng, cạnh phía trên chân chống phía sau xe có dính dị vật màu trắng, kích thước (3 x 0,1)cm; Tại chân chống giữa của xe dính dị vật mầu trắng kích thước (7 x 0,1)cm.
* Kiểm tra hệ thống an T của phương tiện: Xe bị hư hỏng nặng không kiểm tra được hệ thống an T kỹ thuật.
- Xe mô tô biển kiểm soát 35N1 – 389.74:
Mặt trước đèn chiếu sáng, đèn xin đường phía trước bên phải có dính bùn đất, có vết sạt, xước nhựa kích thước (14 x 8)cm, theo chiều từ trái sang phải; Phía trên cánh yếm bên phải có vết sạt, xước nhựa kích thước (27 x 24)cm, theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, điểm cao nhất của dấu vết cách mặt đất 86cm; Mặt ngoài phía dưới cánh yếm bên chắn gió bên phải có vết sạt, xước sơn xen lẫn chùi bụi mới kích thước (18 x 11) cm, theo chiều từ trước về sau, điểm cao nhất của dấu vết cách mặt đất 47cm, điểm thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 25cm; Mặt ngoài bên phải chắn bùn bánh trước bên phải có vết sạt, xước sơn xen lẫn chùi bụi mới, rải rác trên diện (34 x 18)cm, theo chiều từ trước về sau, trên bề mặt có dính dị vật màu đen; Mặt trước ốc bắt giữ càng xe bánh trước bên phải có vết sạt xước kim loại kích thước (3 x 1)cm, theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, điểm cao nhất của dấu vết cách mặt đất là 28,5cm; Mặt ngoài phía dưới càng bánh trước bên phải có vết sạt, xước sơn xen lẫn chùi bụi mới kích thước (7 x 3)cm, theo chiều từ trước về sau, điểm cao nhất của dấu vết cách mặt đất 32cm, điểm thấp nhất của dấu vết cách mặt đất là 25cm; Đầu mặt ngoài phía dưới đế phanh chân bên phải có vết sạt, xước kim loại kích thước (1,5 x 0,3)cm, theo chiều từ trước về sau; Mặt ngoài cao su để chân phía trước bên phải có vết sạt xước rách cao su kích thước (4 x 3)cm, theo chiều từ trước về sau; Mặt ngoài ốp ống xả có vết sạt xước nhựa kích thước (38 x 5)cm, theo chiều từ trước về sau; Mặt ngoài ốc bắt đĩa phanh bánh trước bên phải có vết dính dị vật mầu đen, điểm gần nhất của ốc cách chân kim van theo chiều thẳng là 20cm; Cánh yếm chắn gió phía trước bên trái có vết nứt vỡ nhựa kích thước (60 x 0,1)cm; Mặt trong mặt nạn bên trái có vết vỡ nhựa mới, phần nhựa vỡ đã bị gãy rời khỏi ốp mặt nạ, tại vị trí ốc bắt ốp mặt nạ phía bên trái đầu xe có một mảnh khuy nhựa còn dính trên ốc bắt giữ.
* Kiểm tra hệ thống an T của phương tiện: Hệ thống phanh, còi, đèn, ga, số còn tác dụng. Xe mô tô không có gương chiếu hậu bên phải – trái. Lốp xe còn đảm bảo.
* Về giám định pháp y tử thi: Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 005/2020/HS-TTPY ngày 06/3/2020 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N kết luận nguyên nhân tử vong của ông Bùi Văn V: Phù não, dập não, tụ máu, chảy máu não – màng não do chấn thương sọ não sau tai nạn giao thông.
* Về giám định dấu vết cơ học: Tại bản kết luận giám định số 01/KLGĐ-PC09-DVCH ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận: Mảnh nhựa vỡ thu tại hiện trường ký hiệu A, bị vỡ ra từ mảnh nhựa vỡ hình bán nguyệt trên xe mô tô biển kiểm soát 35N1-389.74 ký hiệu M1, mấu nhựa ở giữa bên trái mặt sau mặt nạ ký hiệu M2 là của xe mô tô mô tô biển kiểm soát 35N1-389.74.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 35N1 – 389.74 cho anh Vũ Thanh T và 01 xe máy điện không biển kiểm soát cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Bùi Xuân L.
Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã ra quyết định chuyển 01 mảnh nhựa màu đỏ hình chữ nhật, kích thước (38,30 x 29 x 3,5)mm được niêm phong trong phong bì giấy được niêm phong theo quy định; 01 mảnh nhựa vỡ màu đỏ hình bán nguyệt kích thước (26,5 x 2,10 x 2,90)mm được niêm phong trong phong bì giấy; 01 tấm nhựa màu đỏ, là mặt nạ của xe mô tô kích thước dài 280mm, rộng nhất 175mm, chỗ hẹp nhất 90mm, cạnh trên dày 3,0mm. Mặt trước có hình lô gô của hãng Yamaha hình tròn, đường kính 40mm, mặt sau có 02 mấu nhựa bị vỡ được niêm phong trong hộp giấy màu nâu kích thước (315 x 215 x 120)mm được niêm phong theo quy định, đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT- VKS-GV, ngày 06/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện G để xét xử về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự(BLHS);
Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về các kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng đã nêu, sau khi luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thành T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 BLHS; các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS). Xử phạt Vũ Thành T 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng; Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nhựa màu đỏ hình chữ nhật, kích thước (38,30 x 29 x 3,5)mm được niêm phong trong phong bì giấy được niêm phong theo quy định; 01 mảnh nhựa vỡ màu đỏ hình bán nguyệt kích thước (26,5 x 2,10 x 2,90)mm được niêm phong trong phong bì giấy; 01 tấm nhựa màu đỏ, là mặt nạ của xe mô tô kích thước dài 280mm, rộng nhất 175mm, chỗ hẹp nhất 90mm, cạnh trên dày 3,0mm. Mặt trước có hình lô gô của hãng Yamaha hình tròn, đường kính 40mm, mặt sau có 02 mấu nhựa bị vỡ được niêm phong trong hộp giấy màu nâu kích thước (315 x 215 x 120)mm được niêm phong theo quy định; Bị cáo phải nộp án phí theo luật định.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận T bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì, được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS). Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Phân tích những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa bị cáo hoàn T nhận tội. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: Vũ Thành T có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định của pháp luật. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/01/2020, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 35N1-389.74 đi từ quán lẩu nướng “Oanh Thông” ở đường 477 thôn Ngô Đồng, xã G, huyện G theo đường liên xã G – xã L – xã G, để về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm 2, xã L, huyện G. Cùng lúc này, ông Bùi Văn V đang điều khiển xe máy điện không có biển kiểm soát đi cùng chiều phía trước, do không chú ý quan sát nên khi xe mô tô của T cách xe của ông V khoảng 01m thì T mới phát hiện ra. Do khoảng cách gần, nên phần đầu xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào phía sau xe máy điện, làm xe mô tô và xe máy điện bị đổ ra đường, ông V và T bị ngã xuống đường. Ông V bị hất văng nằm ở mép đường bên trái, xe máy điện đổ nằm ở mép đường bên phải; xe mô tô và T bị đổ nằm ở mép đường bên phải theo hướng đường 477 đi xã G. Sau khi tai nạn xảy ra, T thấy ông V đang nằm ở trên mặt đường, nhưng T không đến kiểm tra tình trạng sức khỏe, không đưa ông V đi cấp cứu, mà điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Lời khai nhận của bị cáo hoàn T phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thu thập dấu vết của vụ tai nạn, kết luận giám định dấu vết cơ học và giám định pháp y tử thi đúng như Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên. Rõ ràng bị cáo đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N1-389.74 nhưng không chú ý quan sát tình trạng mặt đường, không giữ khoảng cách an T gây tai nạn, đã vi phạm khoản 5 Điều 4, khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12, Điều 38 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả ông Bùi Văn V bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N đến rạng sáng ngày 27/01/2020, thì tử vong. Ngay sau khi gây ra tai nạn, Vũ Thành T tuy có đủ điều kiện nhưng đã cố ý không cứu giúp người bị nạn mà điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân của bị cáo và thái độ của bị cáo đối xử với người bị nạn ngay sau khi gây tai nạn giao thông, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn T đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an T công cộng được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo là người đã thành niên, chỉ vì coi thường quy tắc, luật lệ giao thông dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu tới tình hình trị an của địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo. Sau khi phạm tội đã tích cực cùng gia đình bồi thường T bộ thiệt hại theo thỏa thuận cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại cũng đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo phạm tội do sự nông nổi của tuổi trẻ, là người có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người tốt đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo gây tai nạn khi tham gia giao thông, không phải là người hành nghề lái xe đặc thù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là thỏa đáng.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xẩy ra, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường tất cả các khoản theo thỏa thuận cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 80.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Do đó phần trách nhiệm dân sự Toà không xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 35N1 – 389.74, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Vũ Thanh T(là anh trai của Vũ Thành T). Việc bị cáo sử dụng xe mô tô gây tai nạn, anh T không có lỗi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho anh T, là phù hợp.
Đối với xe máy điện không biển kiểm soát, đây là tài sản hợp pháp của ông Bùi Văn V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại chiếc xe trên cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Bùi Xuân L là đúng pháp luật.
Đối với 01 mảnh nhựa màu đỏ hình chữ nhật, kích thước (38,30 x 29 x 3,5)mm được niêm phong trong phong bì giấy được niêm phong theo quy định; 01 mảnh nhựa vỡ màu đỏ hình bán nguyệt kích thước (26,5 x 2,10 x 2,90)mm được niêm phong trong phong bì giấy; 01 tấm nhựa màu đỏ, là mặt nạ của xe mô tô kích thước dài 280mm, rộng nhất 175mm, chỗ hẹp nhất 90mm, cạnh trên dày 3,0mm. Mặt trước có hình lô gô của hãng Yamaha hình tròn, đường kính 40mm, mặt sau có 02 mấu nhựa bị vỡ được niêm phong trong hộp giấy màu nâu kích thước (315 x 215 x 120)mm được niêm phong theo quy định là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với giấp phép lái xe mô tô số No: 010195402945 mang tên Vũ Thành T do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/10/2019 là một trang tài liệu lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Do không cấm hành nghề đối với bị cáo nên khi Bản án có hiệu lực pháp luật và bị cáo có yêu cầu thì Tòa án sẽ trả lại bản gốc nhưng cần phô tô để lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên đây:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Tuyên bố bị cáo Vũ Thành T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt Vũ Thành T 36(Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Giao bị cáo Vũ Thành T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát người đó. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nhựa màu đỏ hình chữ nhật, kích thước (38,30 x 29 x 3,5)mm được niêm phong trong phong bì giấy được niêm phong theo quy định; 01 mảnh nhựa vỡ màu đỏ hình bán nguyệt kích thước (26,5 x 2,10 x 2,90)mm được niêm phong trong phong bì giấy; 01 tấm nhựa màu đỏ, là mặt nạ của xe mô tô kích thước dài 280mm, rộng nhất 175mm, chỗ hẹp nhất 90mm, cạnh trên dày 3,0mm. Mặt trước có hình lô gô của hãng Yamaha hình tròn, đường kính 40mm, mặt sau có 02 mấu nhựa bị vỡ được niêm phong trong hộp giấy màu nâu kích thước (315 x 215 x 120)mm được niêm phong theo quy định. (Đặc điểm chi tiết các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, ngày 07/5/2020).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Thành T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - Công an huyện GV; - Chi cục THADS huyện GV; - VKSND huyện GV; - Bị cáo; người tham gia TT khác; - Lưu HS, VP. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Q |