- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 27/2020/HS-PT Ngày: 03/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Bùi Văn Bình
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Hoàng Linh
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2020/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo Huỳnh Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
+ Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1966, tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: H, huyện L, thị trấn L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc S (đã chết). Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Vợ: Huỳnh Thị H (đã ly hôn) có 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2019 cho đến ngày 22/10/2019 được tại ngoại cho đến nay.
+ Người bị hại: Bàn Văn T (đã chết)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 11/02/2019, Hồ Văn P điều khiển xe ô tô khách biển số 51B - 189.09 thành phố Hồ Chí Minh đi huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến khu vực thành phố Đồng Xoài thì Hồ Văn P giao tay lái cho phụ xe là Huỳnh Văn Đ điều khiển xe chạy về huyện B để trả khách và đến đêm đón khách rồi điều khiển đến thành phố Đồng Xoài giao lại xe cho Hồ Văn P. Huỳnh Văn Đ nói cho Hồ Văn P biết là Huỳnh Văn Đ không có giấy phép lái xe theo quy định và Huỳnh Văn Đ từ chối, nhưng Hồ Văn P nói cứ chạy xe có gì Hồ Văn P chịu trách nhiệm, đồng thời Hồ Văn P giao giấy phép lái xe của Hồ Văn P cho Huỳnh Văn Đ nên Huỳnh Văn Đ đồng ý. Sau khi về Bù Đăng trả khách đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Huỳnh Văn Đ điều khiển xe ô tô khách biển số 51B - 189.09 từ thôn 8 xã Bom Bo trên đường liên thôn đi ra hướng xã Minh Hưng đón khách, khi đến đoạn đường thuộc thôn 04 xã Bom Bo thì cửa cốp thứ 02 của xe ô tô khách biển số 51B - 189.09 bật ra gây tai nạn với xe mô tô biển số 93LA - 000.25 do anh Bàn Văn T điều khiển theo chiều ngược lại, làm anh T chết tại chỗ. Lúc xảy ra tai nạn do đoạn đường tối không có đèn chiếu sáng, Huỳnh Văn Đ chỉ nghe có tiếng động lạ, tiếng va chạm và Huỳnh Văn Đ nhìn qua kính chiếu hậu không thấy gì nên tiếp tục điều khiển xe đi đến đoạn đường có đèn chiếu sáng gần ngã tư Bom Bo, Huỳnh Văn Đ nhìn qua kính chiếu hậu thấy nắp cốp thứ 02 bật mở ngang thân xe, Huỳnh Văn Đ liền dừng xe lại đóng nắp cốp rồi tiếp tục điều khiển xe đi đón khách và đến thành phố Đồng Xoài giao lại xe cho Hồ Văn P. Sau khi nhận được tin báo về việc gây tai nạn giao thông, Hồ Văn P đã điều khiển xe ô tô khách biển số 51B - 189.09 cùng với Huỳnh Văn Đ đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
Tại bản giám định số 47/2019/GĐPY ngày 20/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Bàn Văn T bị chấn thương vùng mặt gây vỡ đa xương, mất máu cấp, sốc hỗn hợp đến tử vong.
Tại bản giám định số 1389/2019/C09B ngày 07/3/2019 của Phân viện khoa học Kỹ thuật hình sự tại Tp. Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu lông tóc và các dấu vết nâu đỏ dính trên xe ô tô biển số 51B - 189.09 đều là lông tóc và máu người, kiểu gen của các mẫu này đều trùng với kiểu gen của Bàn Văn T (BL 49).
Tại bản giám định số 1382/2019/C09B ngày 15/3/2019 và Công văn số 146/CV ngày 12/4/2019 giải thích kết luận giám định của Phân viện khoa học Kỹ thuật hình sự tại Tp. Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định, ổ khóa của nắp cốp số 02 bên trái (tính từ đầu xe xuống đuôi xe) xe ô tô khách biển số 51B - 18909 đang trong tình trạng mở và hai chốt khóa của nắp cốp này còn tác dụng, không bị hư hỏng. Tại thời điểm giám định 14h 05 phút ngày 26/02/2019 nếu được đóng đúng cách, nắp cốp nêu trên không tự bung (mở) lên được
Tại các Công văn số 749 ngày 16/4/2019 Sở Giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Công văn số 32 ngày 25/4/2019 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Phước xác định: Huỳnh Văn Đ chỉ được cấp giấy phép lái xe hạng FC không có giấy phép lái xe hạng E theo quy định
Tại bản định giá số 26/2019/C09B ngày 24/6/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B kết luận tại thời điểm phạm tội xe ô tô biển số 51B - 18909 bị hư hỏng 300.000đ, xe mô tô biển số 93LA - 00025 bị hư hỏng 500.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước quyết định:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Hồ Văn P phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2019 cho đến ngày 22/10/2019
Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn P 02 năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hồ Văn P về Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục.
Không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
2/ Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào Điều 591 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trung Thị Kim H tiếp tục bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền là 20.100.000đ và thực hiện việc cấp dưỡng cho bà Bàn Thị Đ là 1.000.000đ/tháng tính từ ngày 12/2/2019.
3/ Về vật chứng vụ án:
Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Trả lại cho người đại diện theo hợp pháp của người bị hại 01 xe mô tô biển số 93L1-00025 nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu vàng, loại xe 2 bánh số máy 0193FMB-008143, số khung WCB1PEAB008143 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003563 do công an huyện B cấp ngày 09/08/2011 đứng tên Bàn Thị Dung địa chỉ ấp 4, xã Bom Bo, huyện B, tỉnh Bình Phước, biển số đăng ký 93L1-00025 (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0009743 lập ngày 18/12/2019 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0009763 lập ngày 16/3/2020)
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 3 năm 2020 bị cáo Huỳnh Văn có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình và xin Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn Đ làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm quyết định. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người người làm chứng, bản kết luận giáp định, vật chứng vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ ngày 12/02/2019 bị cáo Được điều khiển xe ô tô khách biển số 51B – 189.09 đón khách trên đường liên thôn từ thôn 8 đến thôn 4, xã Bom Bo, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến đoạn đường thuộc thôn 4, xã Bom Bo thì cửa cốp thứ 02 của xe ô tô bật ra gây tai nạn với xe ô tô biển số 93LA – 000.25 do anh Bàn Văn T điều khiển chiều ngược lại. Khi điều khiển xe ô tô khách biển số 51B – 189.09 bị cáo Được chỉ có giấy phép lái xe hạng FC không có giấy phép lái xe hạng E nhưng vẫn điều khiển xe ô tô khách biển số 51B – 189.09. Hậu quả Bàn Văn T chết.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác là bị cáo có trình độ nhận thức, trình độ hiểu biết thấp, bị cáo đầu thú khi sự việc tai nạn xảy ra theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo 03 năm tù là không nặng đúng với tội trạng của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn Đ không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới.
Bị cáo không đủ điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo do bị cáo không có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, đối chiếu với các quy định của Nghị quyết thì bị cáo không đáp ứng được các quy định để hưởng án treo.
Do đó, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hiệu lực kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Văn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2019 cho đến ngày 22/10/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Trả lại cho người đại diện theo hợp pháp của người bị hại 01 xe mô tô biển số 93L1-00025 nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu vàng, loại xe 2 bánh số máy 0193FMB-008143, số khung WCB1PEAB008143 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003563 do công an huyện B cấp ngày 09/08/2011 đứng tên Bàn Thị Dung địa chỉ ấp 4, xã Bom Bo, huyện B, tỉnh Bình Phước, biển số đăng ký 93L1-00025 (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0009743 lập ngày 18/12/2019 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0009763 lập ngày 16/3/2020)
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng).
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - PV 06 Công an tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp; - TAND, VKS, CA huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Bình |