- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị P xin ly hôn với anh T"
- Tòa quyết gì? Xử cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hoàng Anh T ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 6 - 2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Bậu và ông Vũ Xuân Tuất.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 17/6/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 892/2019/TLST- HNGĐ ngày 09/12/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1991; HKTT: Khu 3, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đ; Cư trú: Ấp A2, xã B2, huyện T, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1988; Cư trú: Khu 3, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hoàng Anh T kết hôn tự nguyện và ngày 29/9/2011 được Ủy ban nhân dân xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xúc phạm danh dự nhau, từ tháng 11/2019 đến nay vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay bà P xin ly hôn với ông T và được ông T đồng ý nhưng ông T không đến tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo U, sinh ngày 04/7/2013 và Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 18/02/2015, hiện cháu U đang sống với bà P và cháu N đang sống với ông T. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu U và giao ông T nuôi cháu N thì được ông T đồng ý. Bà P, ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà P và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà P và ông T khai không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom: Tòa án thu thập chứng cứ đầy đủ, Hội đồng xét xử đúng quy định bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà P; giao cho bà P, ông T mỗi người nuôi 02 con chung và không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Bà P và ông T không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Bà P và ông T khai không có. Buộc bà P nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hoàng Anh T kết hôn không vi phạm điều kiện kết hôn và ngày 29/9/2011 được Ủy ban nhân dân xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Bà P và ông T cùng thừa nhận: Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng nhau nên từ tháng 11/2019 đến nay vợ chồng sồng ly thân và không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay bà P xin ly hôn với ông T và được ông T đồng ý nhưng ông T không đến tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông T ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà P xin ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu nuôi con chung của bà P, ông T thì thấy: Hiện cháu Nguyễn Ngọc Bảo U, sinh ngày 04/7/2013 đang sống với bà P và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 18/02/2015 đang sống với ông T. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu U và ông T yêu cầu nuôi cháu N. Xét yêu cầu của bà P, ông T phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Bà P và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà P và ông T khai không có.
Về án phí: Bà P phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ-ST, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Xử cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hoàng Anh T ly hôn.
- Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo U, sinh ngày 04/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Giao cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 18/02/2015 cho ông Nguyễn Hoàng Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà P và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Về nợ chung: Bà P và ông T khai không có.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí, theo biên lai thu số 0007372 ngày 05/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà P đã nộp đủ tiền án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày các đương sự nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai ; - VKSND huyện; tỉnh; - Chi cục THA DS cùng cấp; - UBND xã Hưng Thịnh (GCNKH ngày 29/9/2011); - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Thị Bích Liễu |