- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ ly hôn giữa chị Th và anh L"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16-7-2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC - TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Đào;
2. Bà Bùi Thị Hải Đường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện DMC.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC, Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 726/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXX–ST ngày 12 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1990; địa chỉ cư trú: Số 159/6, khu phố 1, phường TĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Huỳnh Quốc Gi, sinh năm: 1987; địa chỉ cư trú: Ấp TB, xã TM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20-12-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Chị và anh Gi chung sống với nhau năm 2014, năm 2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, anh Gi bỏ về nhà cha mẹ ruột ở tỉnh Tây Ninh từ tháng 10 năm 2018 đến nay; không liên lạc; không qua tỉnh Bình Dương thăm con. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Gi.
Về con chung: Chị và anh Gi có con chung tên Huỳnh Gia Ph, sinh ngày 11-5-2015; hiện đang sống cùng với chị; chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng đối với anh Gi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Huỳnh Quốc Gi; giao con chung Huỳnh Gia Ph, sinh ngày 11-5-2015 cho chị T nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thanh T là nguyên đơn, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[1.2.] Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng anh Huỳnh Quốc Gi cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Gi. Anh Gi không thực hiện nghĩa vụ của đương sự quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị T và anh Gi tự nguyện chung sống với nhau năm 2004, năm 2016 đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân phường TĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn mỗi người sống mỗi nơi từ năm 2018 cho đến nay, không ai tìm cách giải quyết mâu thuẫn. Mặc dù, anh Gi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không lý do, thể hiện việc anh Gi không mong muốn đoàn tụ. Xét thấy chị T, anh Gi đã không chung sống với nhau thời gian dài, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Gi là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Xét thấy con chung Huỳnh Gia Ph, sinh ngày 11-5-2015 sống cùng chị T từ năm 2018 cho đến nay nên để đảm bảo mọi mặt cho cháu Phát phát triển bình thường, ổn định; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Huỳnh Quốc Gi.
Chị T, anh Gi không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp nuôi con chung Huỳnh Gia Ph, sinh ngày 11-5-2015.
Ghi nhận chị T không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Gi được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh theo Biên lai thu số 0004033 ngày 24 tháng 12 năm 2019; (chị T đã nộp xong án phí).
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện DMC; - Chi cục THADS H.DMC; - UBND phường TĐ; - Đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thanh Tòng |