- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông.
- Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/DS-ST Ngày: 04/9/2020 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh, ông Nguyễn Duy Chấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2020/TLST-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ: Số 130 P, phường 3, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đào Văn S – Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh tỉnh Đắk Nông.
- Người được ông Đào Văn S ủy quyền lại: Ông Vũ Cao S – Nhân viên thẩm định Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Cao S trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Theo hợp đồng tín dụng số N0043/1218, ngày 09/8/2018 bà Nguyễn Thị Mai H được Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông (Đ) đồng ý phê duyệt và giải ngân cho vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 11%/năm, mục đích vay để đầu tư nông nghiệp.
Để bảo đảm cho khoản vay bà H có thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 48, diện tích 18.017,00m2, đất tại xã Đắk Rla, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K0448/TC18, ngày 09/8/2018, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 09/8/2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông;
Trong quá trình vay vốn thì bà H đã thanh toán được cho Đ số tiền lãi trong hạn là 22.310.000 đồng, tính đến ngày 06/3/2020 bà H còn nợ lại Đ tổng số tiền 450.033.835 đồng, trong đó tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 40.585.890 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.447.945 đồng và toàn bộ lãi suất phát sinh tính từ ngày 07/3/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ, đã nhiều lần Đ thông báo việc trả nợ, tuy nhiên bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Đ đã có thông báo số 02/TBCNN-DAB, ngày 10/8/2019 về việc chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay của khách hàng theo hợp đồng tín dụng số N0043/1218.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin thay đổi một phần nội dung đơn khởi kiện: Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng số N0043/1218, ngày 09/8/2018; Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K0448/TC18, ngày 09/8/2018 Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Mai H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông tổng số tiền tính đến ngày xét xử là 475.367.492 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng, lãi trong hạn là 55.996.944 đồng, lãi quá hạn là 19.370.548 đồng và toàn bộ lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong nợ.
- Theo lời khai của bị đơn, bà Nguyễn Thị Mai H trong quá trình điều tra: Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Mai H trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để ấn định thời gian làm việc tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, tuy nhiên bà H vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Về tố tụng: Việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chưa tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Mai H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông số tiền gốc là 400.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng số N0043/1218, ngày 09/8/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
- Đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Mai H có địa chỉ tại Tổ dân phố 11, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn bà Nguyễn Thị Mai H: Theo kết quả xác minh tại Công an thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thì bà Nguyễn Thị Mai H đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 12 năm 2019, do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật (Được phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp và đăng thông báo ấn định thời gian làm việc trên báo công lý trong ba số liên tiếp), nhưng vẫn không có tin tức gì của ông bà H. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Mai H là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về nội dung vụ án: Do có nhu cầu vay vốn bà Nguyễn Thị Mai H có ký kết hợp đồng tín dụng số N0043/1218, ngày 09/8/2018 để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng bà H được Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông giải ngân cho vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 36 tháng, lãi suất 11%/năm, mục đích vay để đầu tư nông nghiệp, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thì bà H đã thanh toán được cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông số tiền tiền lãi trong hạn là 22.310.000 đồng. Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông đã có thông báo số 02/TBCNN-DAB, ngày 10/8/2019 về việc chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay của khách hàng theo hợp đồng tín dụng số N0043/1218, tuy nhiên bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã kí kết, tính đến ngày xét xử bà Nguyễn Thị Mai H còn nợ lại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông tổng số tiền 475.367.492 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng, lãi trong hạn là 55.996.944 đồng, lãi quá hạn là 19.370.548 đồng và toàn bộ lãi suất phát sinh tính từ ngày 05/8/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông có đơn xin thay đổi một phần nội dung đơn khởi kiện: Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng số N0043/1218, ngày 09/8/2018; Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số K0448/TC18, ngày 09/8/2018 Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về nợ gốc: Tại hợp đồng tín dụng số N0043/1218, ngày 09/8/2018 bà Nguyễn Thị Mai H được Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông phê duyệt và giải ngân số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 11%/năm, mục đích vay để đầu tư nông nghiệp. Đến thời điểm trả nợ Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông đã yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, nên hai bên xảy ra tranh chấp, đây hoàn toàn là lỗi của bà H. Do đó việc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Mai H phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc với số tiền 400.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận là phù hợp.
Về lãi suất tiền vay:
Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định
1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung cấp dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã được ký kết thì ngoài số tiền gốc thì bà H còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng, tuy nhiên bà H không thực hiện theo thỏa thuận là đã vi phạm về nghĩa vụ trả lãi của bên vay, do đó Ngân hàng yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày xét xử với số tiền 75.367.492 đồng, trong đó lãi trong hạn là 55.996.944 đồng, lãi quá hạn là 19.370.548 đồng là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng thế chấp tài sản, nhận thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng thế chấp tài sản là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tại phiên toà là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận là phù hợp.
Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
Về án phí DSST: Căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Mai H phải chịu án phí dân sự sở thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mưc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông.
Buộc bà Nguyễn Thị Mai H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 475.367.492 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm chín mươi hai đồng), trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), lãi trong hạn là 55.996.944 đồng (năm mươi lăm triệu chín trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm bốn mươi bốn đồng), lãi quá hạn là 19.370.548 đồng (mười chín triệu ba trăm bảy mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng).
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”
Đình chỉ yêu cầu về việc xử lý tài sản thế chấp đối với quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 48, diện tích 18.017,00m2, đất tại xã Đắk Rla, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K0448/TC18, ngày 09/8/2018, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 09/8/2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông;
2. Về án phí DSST: Bà Nguyễn Thị Mai H phải nộp 23.014.699 đồng (hai mươi ba triệu không trăm mười bốn nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đắk Nông số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001984 ngày 22/4/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
3. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông; -VKSND tỉnh Đắk Nông; -VKSND huyện ĐắkMil; -Chi cục THA dân sự huyện ĐắkMil; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Đình Minh |