- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Nguyễn Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn từ tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/10/2018.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HSPT Ngày: 23/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tuyên.
Các Thẩm phán: Bà Nghiêm Thị Lượng.
Ông Nguyễn Hữu Hòa.
- Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Trường Trung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đức Khương - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 54/2019/HSPT ngày 27 tháng 02 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1993. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Thôn X, xã H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: V Nam;
Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; Gia đình có hai anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án:
- Bản án số 173/2012/HSST ngày 16/8/2012 của TAND thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 55/2015/HSST ngày 29/7/2015 của TAND huyện TD, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 72/2015/HSST ngày 14/9/2015 của TAND huyện YP, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 12/01/2018.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tháng 10/2012, Công an xã HL, thành phố B xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2018 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12h ngày 01/10/2018 tại khu Y, phường K, thành phố B, bị cáo Nguyễn Văn T bị Công an thành phố B bắt quả tang về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1999; trú tại: Khu 4, Đ, TP B, tỉnh Bắc Ninh.
Tang vật thu giữ được gồm có: Thu tại tay V 01 gói bọc ngoài bằng băng dính màu đen trong đó 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); thu tại túi quần T đang mặc 01 túi nilon màu trắng có 03 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) và 200.000đ VNĐ.
Tại Kết luận giám định số 1017/KLGĐMT-PC54 ngày 01/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:
+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng 0,0625 gam, là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine.
+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì ký hiệu M2 có khối lượng 0,0714 gam, là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine.
+ 03 viên nén màu đỏ bên trong phong bì ký hiệu M2 có khối lượng 0,2760 gam, là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine.
Với nội dung như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/10/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về tạm giam, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/01/2019, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 11h ngày 01/10/2018 bị cáo đi đến khu N, phường K gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo mua của người này 300.000đ tiền ma túy với mục đích mua ma túy về bán kiếm lời. Sau khi đưa tiền, người đàn ông này mới đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 03 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng và 01 gói bọc ngoài bằng băng dính đen trong có 01 túi nilon mùa trắng chứa chất tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất vào túi quần đang mặc rồi đi về khu Y, phường K. Tại đây bị cáo gặp Nguyễn Ngọc V, V hỏi mua bị cáo 200.000đ tiền ma túy nên bị cáo đã bán cho V. Khi vừa bán cho V thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy.
Bị cáo thừa nhận án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội nhưng mức hình phạt 07 năm 06 tháng tù là quá nặng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo đã đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, những người làm chứng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi mua bán trái phép 0,4099 gam ma túy Methamphetamine. Mặc dù khối lượng ma túy của bị cáo ở dưới mức tối thiểu về khối lượng chất ma túy là Methamphetamine được quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS nhưng lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm” tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS như Bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, HĐXX phúc thẩm nhận thấy:
Ma túy là chất bị Nhà nước cấm sử dụng bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến con nghiện mà là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Bị cáo T là người có nhân thân rất xấu, đã có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 lần xử phạt hành chính cũng về hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, khó cải tạo, do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. HĐXX phúc thẩm nhận thấy tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và tuyên phạt bị cáo với mức án 07 năm 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX phúc thẩm không xem xét.
Bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt:
Nguyễn Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn từ tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/10/2018.
Áp dụng Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ I – Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND thành phố B; - VKSND thành phố B; - Cơ quan CSĐT thành phố B; - Trại tạm giam Công an tỉnh BN; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tuyên |