vanban.org

Bản án 27/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 19/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân S, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Lê Đăng K, Trần Văn Đ và Trần Thế V phạm tội “Đánh bạc”

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân S và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân S, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Lê Đăng K, Trần Văn Đ và Trần Thế V phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2019/HS-ST
Ngày 19 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đồng Chung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Phong và ông Bùi Xuân Vấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thúy Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Mừng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Xuân S (tên gọi khác: T), sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố A , thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T và bà Hồ Thị Kim L; có vợ là Nguyễn Thị Hoàng P và 02 con; bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2019 đến ngày 02-3-2019, tại ngoại - Có mặt.

2. Phạm Ngọc T, sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Trần Thị Kim C; có vợ là Nguyễn Thị Đ và 02 con; bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2019 đến ngày 02-3-2019, tại ngoại - Có mặt.

3. Nguyễn Việt D, sinh năm 1991 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Đỗ Thị L; có vợ Đỗ Thị T và 01 con; bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2019 đến ngày 02-3-2019, tại ngoại - Có mặt.

4. Lê Đăng K, sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu H và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Lê Thị Kiều T và 01 con; bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2019 đến ngày 02-3-2019, tại ngoại

- Có mặt.

5. Trần Văn Đ, sinh năm 1988 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Võ Thúy H; có vợ là Đặng Thị Ngọc T; tại ngoại - Có mặt.

6. Trần Thế V (tên gọi khác: U), sinh năm 1984 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Lê Thị V; có vợ là Trương Thị V và 02 con; nhân thân: Bản án số: 23/2013/HS-ST ngày 04-6-2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, được trả tự do tại phiên tòa; bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2019 đến ngày 02-3-2019, tại ngoại- Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23-02-2019, Nguyễn Xuân S cùng Trần Văn Đ, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T và một số đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến sân bóng T, thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do ông Bùi Thanh B quản lý, trông coi để chơi bóng thì thấy trên hiên Câu lạc bộ bida nằm trong khuôn viên sân bóng có sẵn chiếu, chăn, chén đĩa, bài, con vị nên rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Nguyễn Xuân S vừa đứng ra cầm cái xóc đĩa vừa tham gia đặt cược. Đến khoảng 14 giờ, Trần Thế V, Nguyễn Việt D đến và cùng tham gia chơi đánh bạc.

Hình thức đánh bạc xóc đĩa được thua bằng tiền: Những người tham gia đánh bạc sử dụng chén đĩa, con vị có sẵn ở hiên nhà câu lạc bộ bi da để đánh bạc với nhau. Người cầm cái sử dụng chén, đĩa để xóc 04 con vị hình tròn được cắt ra từ các lá bài tây, mỗi con vị đều có một mặt sấp thường gọi là đen và một mặt ngửa thường gọi là mặt trắng. Sau khi người cầm cái xóc đĩa xong, những người tham gia đánh bạc sẽ đặt tiền vào cửa chẵn hoặc lẻ, quy định mỗi người trong một lần đặt thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng. Người cầm cái và những người đánh bạc đặt tiền cho hai bên chẵn lẻ bằng nhau. Sau khi đặt tiền xong thì người cầm cái mở đĩa, kết quả nếu có 02 con vị sấp, 02 con vị ngửa hoặc 04 con vị cùng sấp, 04 con vị cùng ngửa là chẵn; 01 con vị sấp 03 con vị ngửa hoặc 01 con vị ngửa, 03 con vị sấp là lẻ. Tỷ lệ thắng thua là ăn thua toàn bộ số tiền đã đặt.

Đến 14 giờ 30 phút, cùng ngày thì lực lượng công an tỉnh Đắk Nông bắt quả tang, có một số đối tượng bỏ chạy. Khi bắt quả tang, có mặt tại địa điểm nơi các đối tượng đánh bạc còn có Nguyễn Quang T ,Trần H, Nguyễn Anh Đ, quá trình điều tra xác định những đối tượng này không tham gia đánh bạc.

Qua quá trình điều tra xác định số tiền các bị can sử dụng vào việc đánh bạc, ăn thua là 12.285.000 đồng, cụ thể như sau: Nguyễn Xuân S vừa xóc cái vừa sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, thắng cược số tiền 1.500.000 đồng; Phạm Ngọc T sử dụng số tiền 4.000.000 đồng, thắng cược 500.000 đồng; Nguyễn Việt D sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, thắng cược 500.000 đồng; Lê Đăng K sử dụng số tiền 50.000 đồng, thua cược 50.000 đồng; Trần Thế V sử dụng số tiền 650.000 đồng, thua cược 100.000 đồng; Trần Văn Đ sử dụng số tiền 2.285.000 đồng, thắng cược 800.000 đồng.

Vật chứng, đồ vật thu giữ được:

Thu giữ tại địa điểm đánh bạc: 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chiếc chăn; 02 bộ bài tây (đã qua sử dụng); 01 đĩa nhựa, 04 con vị được cắt ra từ các lá bài tây; nhiều mảnh vỡ của 01 cái chén nhựa.

Tạm giữ của Nguyễn Xuân S số tiền 7.000.000 đồng và 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) hiệu Iphone 7 màu đen; Phạm Ngọc T số tiền 4.500.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S màu hồng; Trần Văn Đ số tiền 3.085.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu trắng, màn hình trắng đen; Nguyễn Việt D số tiền 48.500.000 đồng và 1 ĐTDĐ hiệu Iphone màu hồng; Lê Đăng K số tiền 22.000.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng; Trần Thế V số tiền 5.080.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu hồng. Nguyễn Anh Đ số tiền 2.000.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc; Nguyễn Quang T 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh đen và 01 ĐTDĐ Nokia màu đen; Trần H số tiền 2.350.000 đồng và 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu vàng.

Tạm giữ 01 xe máy hiệu Sirius màu đỏ đen, BKS: 48F6 -2498; 01 xe máy hiệu Bu bu 125 màu đỏ, BKS: 54L-4684 do ông Bùi Thanh B giao nộp.

Cáo trạng số: 40/CTr-VKS-P1 ngày 16-5-2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân S, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Lê Đăng K, Trần Văn Đ, Trần Thế V phạm tội “Đánh bạc”quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi trình bày bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân S, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Lê Đăng K, Trần Văn Đ, Trần Thế V phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân S và Phạm Ngọc T từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ; bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Đăng K và Trần Văn Đ từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ; Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thế V từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chiếc chăn; 02 bộ bài tây (đã qua sử dụng); 01 đĩa nhựa, 04 con vị được cắt ra từ các lá bài tây; nhiều mảnh vỡ của 01 cái chén nhựa.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 12.285.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc (trong đó: Nguyễn Xuân S: 2.500.000 đồng; Phạm Ngọc T: 4.500.000 đồng; Nguyễn Việt D: 1.500.000 đồng; Lê Đăng K: 50.000 đồng; Trần Thế V: 650.000 đồng; Trần Văn Đ: 3.085.000 đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền của các bị cáo Nguyễn Xuân S: 4.500.000 đồng; Nguyễn Việt D 47.000.000 đồng; Lê Đăng K 21.950.000 đồng; Trần Thế V: 4.430.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Chấp nhận việc cơ quan điều tra trả lại 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) hiệu Iphone 7 màu đen cho bị can Nguyễn Xuân S; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S màu hồng cho bị can Phạm Ngọc T; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu trắng, màn hình trắng đen cho bị can Trần Văn Đ; 1 ĐTDĐ hiệu Iphone màu hồng cho bị can Nguyễn Việt D; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng cho bị can Lê Đăng K; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu hồng cho bị can Trần Thế V. Trả lại cho Nguyễn Anh Đ số tiền 2.000.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc; Nguyễn Quang T 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh đen và 01 ĐTDĐ Nokia màu đen; Trần H số tiền 2.350.000 đồng và 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu vàngdo không liên quan đến việc đánh bạc.

Tiếp tục tạm giữ 01 xe máy hiệu Sirius màu đỏ đen, BKS: 48F6 -2498; 01 xe máy hiệu Bu bu 125 màu đỏ, BKS: 54L-4684 do ông Bùi Thanh B giao nộp để tiếp tục điều tra làm rõ.

Các bị cáo không bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 13 giờ, ngày 23-02-2019, tại hiên nhà Câu lạc bộ bida, nằm trong khuôn viên sân bóng T, thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông do ông Bùi Thanh B quản lý,Nguyễn Xuân S, Trần Thế V, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Trần Văn Đ tham gia đánh bạc sát phạt thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Khi đánh bạc, S là người cầm cái. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, bị lực lượng công an tỉnh Đắk Nông bắt quả tang. Xác định được tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 12.285.000 đồng.

Như vậy đã đủ căn cứ để kết luận, các bị cáo Nguyễn Xuân S, Trần Thế V, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Trần Văn Đ phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm trật tự công cộng tại địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng như tình hình trật tự chung trong xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với tất cả các bị cáo. Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Xuân S, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Trần Văn Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

. Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Xuân S, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Trần Văn Đ đều có nhân thân tốt. Riêng bị cáo Trần Thế V có nhân thân xấu: Bản án số: 23/2013/HS-ST ngày 04-6-2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, đã được xóa án tích.

. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Xuân S là người vừa cầm cái xóc đĩa vừa đặt cược, có vai trò tích cực hơn các bị cáo khác, do đó cần xử phạt bị cáo Sơn mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Các bị cáo Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Trần Văn Đ là người chơi có vai trò như nhau. Tuy nhiên bị cáo Phạm Ngọc T tham gia đánh bạc từ đầu và sử dụng số tiền 4.000.000đ để đánh bạc là lớn hơn so với các bị cáo khác, bị cáo Nguyễn Việt D đến sau và sử dụng 1.000.000đ để đánh bạc, bị cáo Lê Đăng K chỉ sử dụng 50.000đ để đánh bạc, bị cáo Trần Văn Đ sử dụng 2.285.000đ để đánh bạc nhưng bị cáo đã phải ghép thận, sức khỏe yếu, sống phụ thuộc gia đình. Xét thấy, các bị cáo phạm tội do bộc phát, số tiền dùng vào mục đích đánh bạc không lớn, do đó chỉ cần xử phạt các bị cáo hình phạt tiền là phù hợp và tương xứng với mức độ vi phạm của các bị cáo. Đối bị cáo Trần Thế V, mặc dù bị cáo có nhân thân xấu nhưng đã được xóa án tích từ lâu, trong lần phạm tội này bị cáo đến sau cùng, tham gia ít, có vai trò hạn chế hơn các bị cáo khác, số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc chỉ 650.000đ, vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo đã đảm bảo được mục đích của hình phạt, tuy nhiên mức phạt tiền sẽ cao hơn so với các bị cáo khác có cùng vai trò là người chơi. Như vậy, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là phù hợp, cần chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng :

Đối với 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chiếc chăn; 02 bộ bài tây (đã qua sử dụng); 01 đĩa nhựa, 04 con vị được cắt ra từ các lá bài tây; nhiều mảnh vỡ của 01 cái chén nhựa là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 12.285.000 đồng các bị can sử dụng để đánh bạc (trong đó: Nguyễn Xuân S: 2.500.000 đồng; Phạm Ngọc T: 4.500.000 đồng; Nguyễn Việt D: 1.500.000 đồng; Lê Đăng K: 50.000 đồng; Trần Thế V: 650.000 đồng; Trần Văn Đ: 3.085.000 đồng) là tiền sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền của các bị cáo Nguyễn Xuân S: 4.500.000 đồng; Nguyễn Việt D 47.000.000 đồng; Lê Đăng K 21.950.000 đồng; Trần Thế V 4.430.000 đồng xác định được không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, do các bị cáo bị xử phạt tiền nên cần tiếp tục tạm giữ số tiền đã thu giữ của các bị cáo để bảo đảm thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) hiệu Iphone 7 màu đen của Nguyễn Xuân S; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S màu hồng của Phạm Ngọc T; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu trắng, màn hình trắng đen của Trần Văn Đ; 1 ĐTDĐ hiệu Iphone màu hồng của Nguyễn Việt D; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng của Lê Đăng K; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu hồng của Trần Thế V; số tiền 2.000.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc của Nguyễn Anh Đ; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh đen và 01 ĐTDĐ Nokia màu đen của Nguyễn Quang T; số tiền 2.350.000 đồng và 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu vàng của Trần H là tài sản hợp pháp, không liên quan đến việc hành vi phạm tội, việc CQCSĐT xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Đối với 01 xe máy hiệu Sirius màu đỏ đen, BKS: 48F6 -2498 và 01 xe máy hiệu Bu bu 125 màu đỏ, BKS: 54L-4684 do ông Bùi Thanh B giao nộp chưa xác minh được chủ sở hữu cần giao CQCSĐT tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân S, Trần Thế V, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D và Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân S, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D, Lê Đăng K, Trần Văn Đ và Trần Thế V phạm tội “Đánh bạc”

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Lê Đăng K 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thế V 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chiếc chăn; 02 bộ bài tây (đã qua sử dụng); 01 đĩa nhựa; 04 con vị được cắt ra từ các lá bài tây; nhiều mảnh vỡ của 01 cái chén nhựa (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-5-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông và Cục thi hành án dân sự tỉnh Đ)

2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 12.285.000đ (Mười hai triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản số: 09 ngày 15-05-2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông.

2.3. Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Xuân S: 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); Nguyễn Việt D 47.000.000đ (Bốn mươi bảy triệu đồng); Lê Đăng K 21.950.000đ (Hai mươi mốt triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng); Trần Thế V 4.430.000đ (Bốn triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản số: 09 ngày 15-05-2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đề bảo đảm thi hành án.

2.4. Chấp nhận việc cơ quan điều tra trả lại 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) hiệu Iphone 7 màu đen cho Nguyễn Xuân S; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S màu hồng cho Phạm Ngọc T; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu trắng, màn hình trắng đen cho Trần Văn Đ; 1 ĐTDĐ hiệu Iphone màu hồng cho Nguyễn Việt D; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng cho Lê Đăng K; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu hồng cho Trần Thế V; số tiền 2.000.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc của Nguyễn Anh Đ; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu xanh đen và 01 ĐTDĐ Nokia màu đen của Nguyễn Quang T; số tiền 2.350.000 đồng và 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu vàng của Trần H.

2.5. Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đắk Nông tiếp tục tạm giữ 01 xe máy hiệu Sirius màu đỏ đen, BKS: 48F6 -2498 và 01 xe máy hiệu Bu bu 125 màu đỏ, BKS: 54L-4684 để xác minh làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân S, Trần Thế V, Lê Đăng K, Phạm Ngọc T, Nguyễn Việt D và Trần Văn Đ phải chịu mỗi bị cáo 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ