- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Dương N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Dương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 27/2019/HS-ST Ngày: 10 - 5- 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoàn
2. Bà Dương Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tuyết Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2019 tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Trại
Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Dƣơng N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 23/8/1968;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm Ao Rôm 2, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Trần Dương X, con bà: Nguyễn Thị L, đều đã chết; Có vợ là: Vũ Thị N, đã chết, có 02 con chung, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004; Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ lưu giam Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Trần Thị D, sinh năm 1997 - Có mặt
Trú tại: Xóm TL, xã CN, thành phố TN, tỉnh TN.
+ Người chứng kiến: Anh Đinh Thanh T, sinh năm 1987 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm AR, xã KM, huyện Đ, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 00 phút ngày 10/01/2019, tổ công tác Công an huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm AR, xã KM, huyện Đ, tỉnh T phát hiện 01 người đàn ông đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện liên quan đến ma túy (sau xác định là Trần Dương N, sinh năm 1968, trú tại: xóm AR, xã KM, huyện Đ, tỉnh T). Tổ công tác yêu cầu N dừng lại để kiểm tra, tiến hành kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi áo ngực bên phải N đang mặc có 02 gói giấy nhỏ, gồm 01 gói giấy màu trắng và 01 gói giấy loại giấy của vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong cả 02 gói đều có chứa chất bột màu trắng (N khai là Heroine). Ngoài ra, còn thu giữ của N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, đã cũ; 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng WAVE, nhãn hiệu DETECH, BKS: 20AA- 010.xx Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Hỷ tiến
hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Dương N, kết quả không phát hiện, thu giữ được gì.
Tiến hành cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của
Trần Dương N có trọng lượng là 0,153 gam. Lấy toàn bộ để làm mẫu gửi đi giám định (ký hiệu A1).
Tại Bản kết luận giám định số 290/KL-PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: số chất bột màu trắng trong mẫu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,153 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Trần Dương N đã khai nhận: Bản
thân là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 11 giờ 30 ngày 10/01/2019, N điều khiển xe mô tô BKS: 20AA- 010.xx đi từ nhà tại xóm AR, xã KM, huyện Đ, tỉnh T đến khu vực phía sau Trung tâm thương mại VINCOM PLAZA thuộc phường QT, thành phố TN mục đích tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Tại đây, N đã gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, trên đường về đến khu vực xóm AR, xã KM, huyện Đ, tỉnh T thì bị tổ công tác của Công an huyện Đồng Hỷ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, LK; 01 điện
thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mầu đen, đã cũ; 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE, nhãn hiệu DETECH, BKS: 20AA- 010.xx Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSĐH, ngày 21/4/2019 Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Dương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau
khi phân tích nội D vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Dương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, LK.
+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ mầu đen, đã
cũ; tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
+ Trả lại chị Trần Thị D 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE, nhãn hiệu
DETECH, BKS: 20AA- 010.xx
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Hồi 13 giờ 00 phút, ngày 10/01/2019, tại khu vực xóm
AR, xã KM, huyện Đ, tỉnh T, Trần Dương N đang có hành vi tàng trữ 0,153 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ một số vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Dương N đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i của bi ̣ cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lờ i khai của bi ̣ cáo tại cơ quan điều tra , lờ i khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh v à những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hô ̣i đồng xét xử xét thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội D Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...;
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù buộc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối
với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để
sử dụng cho bản thân vì bị cáo là người nghiện ma túy, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Vật chứng của vụ án:
- Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1, LK (bên trong có chứa vỏ
bì và số Heroine còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mầu đen, đã cũ, số
IMEI 1: 353677087980189, số IMEI 2: 35367708980197 (niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT) quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại trên vào việc phạm tội và không có liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo; tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Đối với 01 xe mô tô, kiểu dáng WAVE, nhãn hiệu DETECH, BKS:
20AA- 010.xx, đăng ký xe mang tên Trần Thị D. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa xác định được đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị D (con gái bị cáo). Ngày 10/01/2019 bị cáo có mượn chiếc xe trên sử dụng đi mua ma túy và bị Công an thu giữ. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội chị D hoàn toàn không biết. Nay chị D đề nghị được trả lại chiếc xe trên để quản lý sử dụng; Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của chị D là có căn cứ nên cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị D quản lý sử dụng là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án
theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo
bản án theo quy định của pháp luật.
. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên,
Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, trong vụ án này, N khai về nguồn gốc số Heroine là do N mua
của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực phía sau Trung tâm thương mại VINCOM PLAZA thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch cụ thể của đối tượng trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Trần Dương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều
51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Trần Dƣơng N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2019. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Quyết định tạm giam bị cáo Trần Dương N 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký
hiệu: A1, LK.
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mầu đen, đã
cũ, số IMEI 1: 353677087980189, số IMEI 2: 35367708980197 được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Trả lại cho chị Trần Thị D, sinh năm 1997, trú tại: xóm TL, xã CN,
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên: 01 (một) chiếc xe mô tô, kiểu dáng WAVE, màu sơn xanh, nhãn hiệu DETECH, biển kiểm soát: 20AA- 010.97; số khung: RPEKCB2PEGA*021738*; số máy: VDEJQ139FMB*021738*; xe đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 5
năm 2019 giữa Công an huyện Đồng Hỷ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đồng Hỷ).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án; báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Công an huyện Đồng Hỷ; - Cơ quan THA hình sự- CA huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã KM, huyện Đ, tỉnh T; - Bị cáo, Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Huy Bắc |