vanban.org

Bản án 27/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 14/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: * Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Thị D 02 (hai) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (04/11/2018). Không áp du ̣ng hin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 27/2019/HS-ST
Ngày: 14/03/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngo ̣c

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Khải

2. Ông Quàng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Lò Thị D, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1975 tại Điện Biên;

Nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Xuân A sinh năm 1942 và bà Quàng Thị K sinh năm 1948 (Đã chết), có c hồng là Lườ ng Văn T, sinh năm 1969 và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1995. Tiền án: 01 tiền án; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 02/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Điện Biên , tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tô ̣i Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 101/2016/HSST. Đến ngày 14/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/11/2018, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Thị D : Ông Nguyễn Trần D - Luật sư, cộng tác viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

* Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Vì Văn Ng - Sinh năm: 1991;

Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/11/2018, tại nhà ở của mình thuộc bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên Lò Thị D đã bán cho Vì Văn Ng 01 gói Heroine có khối lượng 0,06 gam vớ i giá 50.000 đ. Sau khi mua xong Nghiên mang về vớ i mu ̣c đich để sử dụng, Ng đi đến đầu bản Mường Pồn 2, xã

́ Mường Pồn, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác đồn Biên phòng Mường Pồn phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine. Đồn biên phòng Mường Pồn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D đa phát hiện, thu giữ

̃ trong cán chiếc gáo nhựa màu đỏ để trên nóc tủ lạnh

0.57 gam Heroine và 0.2 gam Methamphetamine; thu giữ trong áo ngực D đang mặc 50.000 đồng ( gồm 02 tờ mê ̣nh giá 20.000 đ và 01 tờ mê ̣nh giá 10.000 đ). D khai nhâ ̣n số ma túy nêu trên là của D cất dấu nhằm mu ̣c đich để bán lẻ kiềm lờ i, số tiền 50.000đ là tiền

́

mà D bán Heroine cho Ng mà có. Nguồn gốc ma túy có được là do D mua của một người đàn ông khoảng 45 tuổi, không biết tên và đi ̣a chỉ vào khoảng 08 giờ ngày 04/11/2018, tại khu vực đầu Bản Lĩnh 1, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên. D mua với giá 150.000 đồng được 01 gói Heroine và 01 gói bên trong có 02 viên Methamphetamine đều được gói bằng nilon màu hồng. Sau khi mua D mang về nhà giữ nguyên gói Methamphetamine và chia nhỏ gói Heroine ra thành 01 cục và 05 gói nhỏ gồm: 03 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng ( Đây là gói đa bã ́n cho Nghiên) và 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong là giấy bạc màu vàng. Khi D mua, chia nhỏ cất giữ và bán ma túy thi không có ai khác được

̀ biết.

Bố đẻ của bi ̣ cáo được nhà nướ c tă ̣n g thưở ng huân chương kháng chiến hạng Ba. Tại phiên tòa bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và có đề nghị được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bản cáo trạng số: 35/CT-VKSĐB ngày 12/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Thị D về tô ̣i "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Thị D với mức hình phạt từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,49 gam Heroin và 0,1 gam Methamphetamine là số ma túy còn lại sau khi đã trích mẫu giám định ; Tịch thu, nô ̣p ngân sách nhà nướ c tiền ngân hàng nhà nướ c Viê ̣t Nam 50.000 đ; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gáo nhựa múc nướ c màu đỏ đa thu giữ

̃ của Lò Thị D. Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí quan đ iểm của viê ̣n kiểm sát về tô ̣i danh, điều luâ ̣t áp du ̣ng, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ

̀ qui đi ̣nh ta ̣i khoản 2 điều 51 BLHS cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được ho ̣c hành, sống ta ̣i xa cõ ́ điều kiê ̣n kinh tế đă ̣c biê ̣t khó khăn nên nhâ ̣n thứ c còn ha ̣n chế và cho bi ̣ cáo hưở ng mứ c hinh pha ̣t thấp nhất mà viê ̣n

̀ kiểm sát nhân dân đề xuất ; miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo vì thu nhập thấp, kinh tế gia đinh bi ̣ cáo còn nhiều khó khăn. Về vật

̀

chứ ng đề nghi ̣ giải quyết theo qui đi ̣nh của pháp luâ ̣t . Qua tranh luâ ̣n, đa ̣i diê ̣n viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đi ện Biên nhất trí quan điểm của luật sư , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ như trên theo qui đi ̣nh ta ̣i khoản 2 điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự cho bi ̣ cáo.

̀

Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa nhất tri và

́ không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luâ ̣n điều tra của cơ quan điều tra ; quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Ngườ i có nghia vu ̣̃

liên quan không có ý kiến đề nghi ̣ gi.

̀

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ mức hình phạt nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 04/11/2018 Lò Thị D đa cõ ́ hành vi mua tổng cô ̣ng 0,63 gam Heroine (gồm 0,57 gam thu của D , 0,06 gam thu của Ng ) và 0,2 gam Methamphetamine về, sau đó chia nhỏ Heroin cất giữ để bán và đa bán chõ Nghiên 0,06 gam Heroine. Hành vi này củaD đa trực tiếp xâm phạm đến chế độ̃ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi trên của Lò Thị D được chứng minh tại: Biên bản khám xét , tạm giữ đồ vật tài liệu, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án, kết luận giám định, các lời khai của bị cáo , ngườ i có nghia vu ̣̃

liên quan tại các biên bản ghi lờ i khai , biên bản hỏi cung bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

Như vâ ̣y Hô ̣i đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác đi ̣nh bị cáo D có tội, bị cáo đa phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điềũ 251 Bộ luật Hình sự đúng như cáo tra ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Điê ̣n Biên đa truy tỗ

. Khoảń

1 điều 251 Bộ luật hình sự qui đi ̣nh: “ Ngườ i nào mua bán trái phép chất ma túy thi bi ̣ pha ̣t tù tư02̀ năm đến 07 năm.”

̀

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Tuy nhiên hành vi pha ̣mtô ̣i của bi ̣ cáo là đơn le, không có tổ chức̉

, không có đồng phạm, xuất phát từ đô ̣ng cơ muốn có tiền chữa tri ̣ bê ̣nh cho bản thân ; mục đích của bị cáo khi thực hiện hành vi là nhằm kiếm lời . Bị cáo đã phạm tô ̣i vớ i lỗi cố ý trực tiếp.

Bị cáo thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i lần này trong khi chưa được xóa án

tích đối với Bản án số: 101/2016/HSST ngày 02/3/2016 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Điê ̣n Biên. Do vâ ̣y, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiê ̣m hinh

̀ sự là tái pha ̣m qui đi ̣nh ta ̣i điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; Bị cáo là ngườ i dân tô ̣c thiểu số , vừ a không được ho ̣c hành, lại sinh sống ta ̣i xa cõ ́ điều kiê ̣n kinh tế xã hội đă ̣c biê ̣t khó khăn nên về khả năng nhâ ̣n thứ c và các điều kiê ̣n phát để khác triển bản thân bị nhiều hạn chế. Vì vậy, Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ của đa ̣i diê ̣n viê ̣n kiểm sát, luâ ̣t sư bào chữa cho bi ̣ cáo và xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vâ ̣y bi ̣ cáo có 01 tình tiết tăng nặng và 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tinh chất mứ c đô ̣ nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i của hành vi phạm

́ tô ̣i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự , đă ̣c điểm nhân thân của bị cáo; nhằm thể hiê ̣n tinh nghiêm minh , nghiêm khắc và răn đe của pháp

́ luâ ̣t vớ i tô ̣i pha ̣m và những hành vi vi pha ̣m pháp luâ ̣t . Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sứ c răn đe đối vớ i bi ̣ cáo. Tuy nhiên khi lượng hinh, Hô ̣i đồng xét xử cũng căn cứ vào: Chính sách khoan hồng của

̀ Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với những người phạm tội biết ăn năn hối cải, biết từ bỏ con đườ ng pha ̣m tô ̣i; Chính sách nhân đa ̣o đối vớ i thân nhân ngườ i có công vớ i cách ma ̣ng và chính sách, mục tiêu xã hội về dân tô ̣c đa ̃ quyết đi ̣nh giảm nhẹ mô ̣t phần về hình phạt cho bị cáo. Hô ̣i đồng xét xử xét thấy mứ c hinh pha ̣t của Đa ̣i diê ̣n Viện kiểm sát nhân dân, của luật sư bào chữa

̀ đề xuất áp dụng cho bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

Hô ̣i đồng xét xử thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điê ̣n Biên phù hợp vớ i các quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên cần chấp nhâ ̣n: Tịch thu tiêu hủy 0,49 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine là vâ ̣t cấm tàng trữ , lưu hành; Tịch thu, nô ̣p ngân sách nhà nướ c tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 50.000 đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có ; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gáo nhựa múc nướ c màu đỏ không có giá tri ̣ đa thu giữ

̃ của Lò Thị D.

Lò Thị D khai mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.

Đối với hành vi Tàng trữ t rái phép chất ma túy của Vì Văn Ng, hành vi này của Ng chưa đến mứ c truy c ứu trách nhiệm hình sự , Bô ̣ chi huy bô ̣̉

đô ̣i biên phòng tỉnh Điện Biên đa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối vớĩ Ng bằng hình thức phạt tiền. Xét thấy việc xử phạt vi phạm hành chính này là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và không có tài sản gì có giá trị tại địa phương nơi sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Hô ̣i đồng xét xử thấy rằng bi ̣ cáo

đủ điều kiê ̣n được miễn án phi hinh sự sơ thẩm vi là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có

́ ̀

̀ điều kiê ̣n kinh tế – xã hội đă ̣c biê ̣t kh ó khăn nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

* Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Thị D 02 (hai) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (04/11/2018). Không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối

̀ vớ i bi ̣ cáo.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,49 gam Heroin và 0,1 gam Methamphetamine; Tịch thu, nô ̣p ngân sách nhà nướ c tiền ngân hàng nhà nướ c Viê ̣t Nam 50.000 đ; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gáo (ca) nhựa múc nước màu đỏ không có giá tri ̣ đa thu giữ

̃ của Lò Thi ̣ D.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/02/2019 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Về án phí:

Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo Lò Thị D tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Lò Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/3/2019). Ngườ i có nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án hoă ̣c quyết đi ̣nh có liên quan đến nghia vu ̣̃

của minh trong thờ i ha ̣n15 ngày kể từ

̀ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luâ ̣t.

Cỡ chữ