- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Ngọc Y và Nguyễn Trần Quốc H"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Lý Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Trần Quốc H ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2019 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Quang Hoạch
2. Bà Đào Thị Giang
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom: Ông Phạm Hữu Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 263/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị Ngọc Y, sinh năm 1989. Trú tại: ấp 3, xã A V, huyện T B, tỉnh Đ N.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trần Quốc H, sinh năm 1982. Trú tại: ấp Q B, xã Q T, huyện T B, tỉnh Đ N.
(Chị Y , anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Lý Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Trần Quốc H tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã A V, huyện T B, tỉnh Đ N và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29/9/2015.
Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống và tính cách không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung không tin tưởng lẫn nhau, nên thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã. Anh H thường xuyên nhậu nhẹt về nhà kiếm chuyện, chửi bới, có những lời lẽ xúc phạm chị Y và ghen tuông tôi một cách mù quáng. Chúng tôi đã nhiều lần tự hòa giải để cuộc sống vợ chồng được cải thiện nhưng vẫn không có kết quả. Hiện tại vợ chồng đang sống ly thân, tình cảm vợ chồng giành cho nhau không còn. Nay chị Y xin được ly hôn với anh H nhưng không được anh H đồng ý vì anh là người theo đạo công giáo không thể ký vào các giấy tờ ly hôn.
Về con chung: không có;
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Nợ chung: Không có.
Do do chị Y và anh H bận công việc không thể tham gia phiên tòa. Nên chị Y và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom: Tòa án thu thập chứng cứ đầy đủ, Hội đồng xét xử đúng quy định bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y ; Tài sản chung: Chị Y và anh H không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Chị Y và anh H khai không có. Buộc chị Y nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Trần Quốc H kết hôn không vi phạm điều kiện kết hôn và ngày 29/9/2015 được UBND xã A V huyện T B, tỉnh Đ N cấp giấy chứng nhận kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Chị Y và anh H cùng thừa nhận: Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xúc phạm nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Y và anh H ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị Y xin ly hôn với anh H là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Chị Y và anh H khai không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Y và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Chị Y và anh H khai không có.
Về án phí: Chị Y phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ-ST, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí;
Ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 228; Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Xử cho chị Lý Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Trần Quốc H ly hôn.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Chị Lý Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Trần Quốc H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Về nợ chung: Chị Lý Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Trần Quốc H khai không có.
- Về án phí:
Chị Y phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí, theo biên lai thu số 0006546 ngày 05/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chi Yến đã nộp đủ tiền án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày các đương sự nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai ; - VKSND huyện; tỉnh; - Chi cục THA DS cùng cấp; - UBND xã A V (số 24 ngày 29/92015). - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Châu Ngọc Hà |