vanban.org

Bản án 27/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Tân T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị G. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Tân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị G. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án T và G"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:27/2019/HNGĐ-ST.
Ngày:12/4/2019
Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Thanh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đoạt.

2. Bà Phạm Hồng Gái

Thư ký tòa án ghi Biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Văn Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên G.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại truï sôû Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 77/2018/TLST - HNGĐ, ngày 21 tháng 2 năm 2019 về việc “ Xin Ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019.

Nguyên đơn: Anh Ngô Tân T, Sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp Long Thành, xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị G, Sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Ranh Hạt, xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và tại phiên Tòa hôm nay anh Ngô Tân T trình bày:

Anh Ngô Tân T và chị Nguyễn Thị G lấy nhau là do yêu thương được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27 tháng 12 năm 2013 thời gian đầu mới kết hôn thì vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đã có với nhau một người con chung là cháu Ngô Quốc Duy, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2013. Nhưng chung sống với nhau được một thời gian đầu thì sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày càng trở nên chia cắt không thể hàn gắn với nhau được nữa và hai vợ chồng đã ly thân hơn hai năm nay. Từ khi ly thân thì giữa hai vợ chồng không còn quan tâm, không chăm sóc nhau cuộc sống của ai người đó tự lo. Nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và sống chung với nhau được nữa, nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị G.

Về con chung: Anh Ngô Tân T và chị Nguyễn Thị G có một con chung là cháu Ngô Quốc Duy, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2013, anh Ngô Tân T đồng ý giao con cho chị Nguyễn Thị G nuôi dưỡng và không cấp dưỡng việc nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Anh Ngô Tân T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ và cho vay nợ: Anh Ngô Tân T trình bày vợ chồng không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh T không trình bày gì thêm.

Bị đơn chị Nguyễn Thị G: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhưng chị Nguyễn Thị G đều cố tình vắng mặt nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Toà, Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, căn cứ vào Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên G.

- Mặc dù Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng chị Nguyễn Thị G vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án T hành xét xử vắng đối với chị Nguyễn Thị G theo quy định Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.

Xét về hôn nhân: Anh Ngô Tân T và chị Nguyễn Thị G lấy nhau là do yêu thương, sau đó tổ chức đám cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận, nhưng trong quá trình chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và đã chính thức ly thân nhau hơn hai năm nay, từ khi vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau thì cuộc sống chung của vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc nhau, hơn nữa tại phiên Tòa hôm nay anh Ngô Tân T trình bày anh không còn yêu thương và không thể hàn gắn và sống chung với chị Nguyễn Thị G được nữa, nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị G. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa Anh Ngô Tân T và chị Nguyễn Thị G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn, không thể hàn gắn và sống chung với nhau được nữa, nên căn cứ vào Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Tân T.

Xét về con chung: Anh Ngô Tân T và chị Nguyễn Thị G có 01 con chung là cháu Ngô Quốc Duy sinh ngày 30 tháng 9 năm 2013. Tại phiên tòa hôm nay anh T trình bày hiện tại thì con đang ở với chị Nguyễn Thị G và từ lúc hai vợ chồng ly thân thì chị G là người trực tiếp nuôi con nên anh T giao con cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy anh T và chị G không có tranh chấp về con, nên ghi nhận và giao cháu Ngô Quốc Duy cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng.

Vê cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị G không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét

Xét về quan hệ tài sản chung của vợ chồng: anh Ngô Tân T thừa nhận giữa anh với chị Nguyễn Thị G không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ và cho vay nợ: anh Ngô Tân T trình bày vợ chồng không nợ ai cũng không cho ai vay nợ vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án. Thì anh Ngô Tân T phải chịu án phí là Hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Tân T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị G.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Tân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị G.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Ngô Quốc Duy cho Chị Nguyễn Thị G tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị G không yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về quyền thăm nom chăm sóc con chung: Anh Ngô Tân T có quyền, chị Nguyễn Thị G cũng như những người khác không ai được quyền cấm cản.

3. Về quan hệ tài sản chung: Anh Ngô Tân T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ và cho vay nợ: Anh Ngô Tân T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

5. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh Ngô Tân T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí, nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh Ngô Tân T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên G theo biên lai thu số 0000710 ngày 14 tháng 02 năm 2019 số tiền theo biên lai là 300.000 đồng. Như vậy anh Ngô Tân T đã nộp xong án phí.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng chị Nguyễn Thị G vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ