- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Ngọc D khởi kiện ly hôn, giải quyết về con chung với anh Nguyễn Thanh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lê Thị Ngọc D đối với anh Nguyễn Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2019 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Tự;
2. Ông Võ Văn Vui.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 5, ấp B, xã S, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 5, ấp B, xã S, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 02 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc D trình bày:
Chị và anh H tự nguyện chung sống từ năm 1997, không có tổ chức lễ cưới, đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, anh H thường xuyên ăn nhậu, đánh đập chị nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1999; Nguyễn Thanh V, sinh năm 2000; Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11-12-2001. Các con K, V đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu T hiện chưa đủ tuổi vị thành niên, cháu đang sống cùng với chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29 tháng 3 năm 2019, bị đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên gây gổ, cãi vã nhau. Từ đó, anh và chị D ly thân cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Hiện các con tên Nguyễn Thị Diễm K và Nguyễn Thanh V đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung tên Nguyễn Ngọc T chưa đủ 18 tuổi, anh yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, con có nguyện vọng sống cùng ai thì người đó nuôi dưỡng, người còn lại không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội D, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Chị Lê Thị Ngọc D và anh Nguyễn Thanh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 xét xử vắng mặt chị D, anh H.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ngọc D đối với anh Nguyễn Thanh H; về con chung: Các con chung tên Nguyễn Thị Diễm K, Nguyễn Thanh V đã thành niên nên không đặt ra giải quyết; giao con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11-12-2001 cho chị D nuôi dưỡng, ghi nhận chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết; về án phí: Chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Ngọc D khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với anh Nguyễn Thanh H, anh H có địa chỉ cư trú tại ấp B, xã S, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Chị Lê Thị Ngọc D và anh Nguyễn Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc D và anh Nguyễn Thanh H tự nguyện chung sống từ năm 1997, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H đồng ý ly hôn với chị D nhưng xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay, thể hiện việc anh H không mong muốn đoàn tụ với chị D.
Xét thấy, thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1999; Nguyễn Thanh V, sinh năm 2000; Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11-12-2001. Đối với các cháu Nguyễn Thị Diễm K, Nguyễn Thanh V đều đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết. Xét ý kiến của cháu Nguyễn Ngọc T có nguyện vọng sống cùng chị D, anh H cũng đồng ý giải quyết theo nguyện vọng của con chung. Do đó, giao cháu Nguyễn Ngọc T cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở, ghi nhận chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lê Thị Ngọc D đối với anh Nguyễn Thanh H.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc D được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
Về con chung: Các con chung Nguyễn Thị Diễm K, Nguyễn Thanh V đều đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết. Giao chị Lê Thị Ngọc D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11-12-2001; ghi nhận chị D không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011420 ngày 22-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. Dương Minh Châu; - CCTHADS H. Dương Minh Châu; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ; tập án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Trúc Linh |