- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà A kiện ông Th"
- Tòa quyết gì? VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HNGĐ-PT Ngày 11-7-2019 V/v tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thăng Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Nhung
Bà Phạm Thị Xuân Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Đào Văn Dũng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2019/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn”, Do bản án sơ thẩm số 02/2019/HNGĐ-ST ngày 16/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã L bị kháng cáo, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 45/2019/QĐ-PT ngày 23 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Y, sinh năm 1945.
- Bị đơn: Ông Tạ Z, sinh năm 1944. Cùng địa chỉ: Ấp Tr, xã X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thí: Luật sư Nguyễn Thái Hoàng – Công ty luật trách nhiệm hữu hạn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn – bà Đặng Thị Y, trình bày: Bà Y và ông Z tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1967, không có đăng ký kết hôn . Vợ chồng có 05 người con chung là Tạ Thị Bích Th, sinh năm 1968, Tạ D, sinh năm 1971, Tạ Đ, sinh năm 1974, Tạ Thị H, sinh năm 1977 và Tạ Thị Mỹ N, sinh năm 1979. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, cãi vã do tính tình không hợp, quan điểm bất đồng. Bà Y và ông Z đã ly thân hơn 04 năm. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, bà Y yêu cầu Tòa án cho ly hôn ông Z. Về con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng có tạo lập được diện tích đất 6.450,7m2, thửa số 4, tờ bản đồ số 10, xã X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai. Bà Y yêu cầu được chia 3.020,1m2. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn - ông Tạ Z, trình bày: Ông Z thừa nhận lời trình bày của bà Y về thời gian sống chung, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Ông Z không đồng ý ly hôn vì hai vợ chồng đã cao tuổi, sống không còn bao lâu. Về tài sản chung, ông Y đề nghị để thửa đất số 4, tờ bản đồ số 10, xã X, thị xã L cho các con quản lý, sử dụng. Ông Z sẽ thanh toán cho bà Y số tiền 400 triệu đồng vì bà Y đã lớn tuổi, không còn sức lao động nên không có khả năng canh tác trên đất. Tại bản án sơ thẩm số 02/2019/HNGĐ-ST ngày 16/01/2019, Tòa án nhân dân thị xã L quyết định: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Y. Ngoài ra, án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 22/01/2019, bà Đặng Thị Y có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm cho ly hôn ông Z và chia đôi tài sản chung cho bà hưởng một nửa. Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Z tranh luận, trình bày: Ông Z, bà Y đều đã lớn tuổi. Giữa ông bà không có mâu thuẫn gì lớn, việc bà Y khởi kiện xin ly hôn là do bị xúi giục. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định. Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và chia tài sản chung của bà Y là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Bị đơn – ông Tạ Z, đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định của pháp luật tố tụng, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Z. Về kháng cáo của bà Y: Bà Y khởi kiện, cho rằng quá trình chung sống với ông Z vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Z sống ích kỷ, thường xuyên bạo hành, không giúp đỡ bà Y về kinh tế khi bà đau ốm. Ông Z không đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng đã lớn tuổi và giữa hai người không có mâu thuẫn gì lớn. Việc bà Y xin ly hôn là do có một người con xúi giục để hưởng lợi về tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại địa phương, kết quả cho thấy trình bày của ông Z là có cơ sở. Bà Y xin ly hôn là do bị xúi giục. Ngoài ra, hiện nay tình hình sức khỏe của ông Z rất kém, thường xuyên bị bệnh phải vào viện điều trị. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Y là có căn cứ. Kháng cáo của bà Y không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận, bà Y phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, Không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2019/HNGĐ-ST ngày 16/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã L: Căn cứ các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật hôn nhân gia đình năm 1959; Luật hôn nhân gia đình năm 1986; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Y về việc xin ly hôn và chia tài sản chung. Về án phí: Bà Đặng Thị Y phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí phúc thẩm. Trừ vào số tiền 1.550.000đ tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 008044 ngày 11/12/2017 và 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 009417 ngày 23/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L, hoàn trả bà Đặng Thị Y số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND TP. L; - Chi cục THADS TP. L; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thăng |