- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HSST Ngày: 26/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy
2. Bà Đỗ Thị Hảo
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Ông Nguyễn Kao Hoàng , thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2018/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXXST -HS ngày 15/ 01/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Tiến D, tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1981;Nơi ĐKNKTTvà chỗ ở: Tổ 49, phường H, thành phố T, tỉnh T;Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Duy H, sinh năm 1954 (Đã chết); Con bà: Phạm Thị T, sinh năm 1956;Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;Có vợ là Nguyễn Thị S, sinh năm 1988; Có 01 con sinh năm 2008.Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2013, đi cai nghiện bắt buộc theo quyết định của UBND thành phố Thái Nguyên (thời hạn 24 tháng). Chấp hành xong ngày 23/9/2015.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng: Anh Lê Thế A, sinh năm: 1978, trú tại: Tổ 12, phường
H, thành phố T, tỉnh T. ( Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ ngày 01/12/2017, Tổ công tác của Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 12, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính, nam thanh niên tự khai tên là Lê Tiến D. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ tại lòng bàn tay phải của D có 01 gói nilon màu đỏ, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng (D khai là Hêrôin của D). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D và niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định.
Hồi 23 giờ ngày 01/12/2017, cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của D có trọng lượng 0,324 gam.
Tại bản kết luận giám định số 93/KL-PC54 ngày 07/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Lê Tiến D là chất ma túy, loại Hêrôin, trọng lượng (khối lượng) là: 0,324gam.
Cùng ngày, tiến hành khám xét chỗ ở của Lê Tiến D tại tổ 49, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án
Tại Cơ quan điều tra, Lê Tiến D khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/12/2017, D đi làm phu hồ về qua khu vực tổ 13, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 01 gói Hêrôin được gói bằng nilon màu đỏ với giá 350.000 đồng. Mua xong, D cầm gói ma túy Hêrôin vừa mua được vào trong tay phải và đi nhờ xe của nam thanh niên đó về phường Hương Sơn. Sau đó, D đi bộ đến khu vực cầu sắt thuộc tổ 12, phường Hương Sơn thì bị tổ công tác của Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Lê Tiến D phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
* Vật chứng của vụ án:
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 15/KSĐT-MT ngày 31/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14
Xử phạt:
Bị cáo Lê Tiến D: Từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra,xét hỏi,tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Tiến D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 17 giờ ngày 01/12/2017, tại khu vực tổ 12, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, Lê Tiến D có hành vi tàng trữ 0,324 gam Hêrôin để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, nay là khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH 13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH 14, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt, điều luật theo quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
. Bản cáo trạng số: Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Lê Tiến D về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
.Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Về vật chứng của vụ án: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1
.Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
.Các vấn đề khác: Trong vụ án này Lê Tiến D khai mua ma túy (Hêrôin) của một người đàn ông không quen biết. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ của người này, nên cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để điều tra làm rõ, xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
- Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
1/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Xử phạt Lê Tiến D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 01/12/2017.
- Quyết định tạm giam bị cáo Lê Tiến D 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01phong bì niêm phong ký hiệu D1
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 99 ngày 08/01/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Tiến D phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; -TAND,VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND phường Hương Sơn, TPTN, tỉnh Thái Nguyên; - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã ký Trần Thị Minh Hải |