- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tiến Lực - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH ________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HSST Ngày: 27/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Bùi Văn Lịch.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Ông Lê Duy Khôi – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2018/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/HSST-QĐ ngày 14/6/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Tiến L - Sinh năm: 1980
Nơi sinh, nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Minh H – Sinh năm: 1950; con bà Vũ Thị K – Sinh năm: 1951; có vợ là Trần Thị L – Sinh năm: 1988 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2018 đến ngày 09/5/2018 chuyển tạm giam hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nam Trực. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 07/5/2018, Vũ Tiến L về khu vực nghĩa trang Xối Tây thuộc thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định định đi vào trong nghĩa trang để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an tỉnh Nam Định đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang L đang cầm một gói ma túy trong tay phải, L khai nhận đó là gói heroine L vừa mua để sử dụng. Công an tỉnh Nam Định tiến hành thu giữ vật chứng niêm phong ký hiệu M và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy kẻ ô ly màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong trong bì thư, ký hiệu là (M); 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Vũ Tiến L; 01 xe máy màu đỏ đen đã qua sử dụng, BKS 18K1-100.51 và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng màu xanh đen.
Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, Vũ Tiến L khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 07/5/2018, L điều khiển xe mô tô BKS 18K1-100.51 từ nhà tại thôn Thạch Cầu, xã Nam Tiến, huyện Nam Trực đến khu vực Bến đò N thuộc xã N, huyện N với mục đích mua heroin để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, L gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua 170.000 đồng heroine, người phụ nữ đồng ý bán. L đưa cho người phụ nữ 170.000 đồng, người phụ nữ nhận tiền và đưa cho L một gói chất bột dạng cục màu trắng đựng trong giấy kẻ ô ly màu trắng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trực đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Vũ Tiến L. Tại Bản kết luận giám định số: 387/GĐKTHS ngày 08/5/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma tuý. Loại chất ma tuý là Heroine. Khối lượng mẫu M là 0,269 gam.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Tiến L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân.
Bản cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 25/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Tiến L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:
Tuyên bố Vũ Tiến L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Vũ Tiến L từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy số heroine đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 387/GĐKTHS; tuyên trả cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Tiến L, tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động vỏ màu xanh đen đã qua sử dụng, có số imei 356879073035310 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của người làm chứng là anh Đào Đình T, anh Phạm Thành C, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định số: 387/GĐKTHS ngày 08/5/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 07/5/2018 tại khu vực nghĩa trang Xối Tây, thuộc thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, lực lượng Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Vũ Tiến L có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói heroine có khối lượng là 0,269 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện; khối lượng heroine bị cáo tàng trữ là 0,269 gam nên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Vũ Tiến L không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Vũ Tiến L có hoàn cảnh khó khăn, tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Xử lý vật chứng:
Vật chứng thu giữ bao gồm: Số heroine thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy, 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Tiến L tuyên trả cho bị cáo, chiếc điện thoại di động là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội tuyên trả cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 18K1-100.51 do Vũ Tiến L điều khiển, quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của chị Vũ Thị N, trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Chị N cho L mượn xe nhưng không biết L dùng xe để đi mua heroine. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trực đã trả lại chiếc xe cho chị N là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Tiến L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2018.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy số heroine đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 387/GĐKTHS; tuyên trả cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Tiến L, tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động vỏ màu xanh đen đã qua sử dụng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/5/2018).
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Tiến L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện Nam Trực; - Công an huyện Nam Trực; - UBND xã N; huyện N, tỉnh Nam Định - Bị cáo; - Lưu HS+VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Xuân Thọ |