vanban.org

Bản án 27/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tuyên án 18/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn A 27 ( Hai mươi bảy ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 54 ( Năm mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án 18/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn An phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2018/HSST
Ngày: 18/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Minh Trang - Phó bí thư huyện đoàn Nam Sách; Bà Trần Thị Luận - Chủ tịch Hội cựu giáo chức huyện Nam Sách.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bách - Thư ký TAND huyện Nam Sách.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên VKSND huyện Nam Sách.

Ngày 18/6/2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2018/HSST ngày 18/5/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-HS ngày 04/6/2018 đối với bị cáo:

Phạm Văn A - sinh ngày 03/6/2001;

ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương;

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam;

Con ông: Phạm Hoàng H và bà Nguyễn Thị H;

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại;

Có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Phạm Hoàng H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ Thôn Đ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hải Dương; Có mặt.

Đại diện Trường C: Ông Lê Việt A - Phòng quản lý học sinh, sinh viên ( Theo văn bản cử người đại diện số 560/DLTM-TCHC ngày 11/6/2018 của Hiệu trưởng Trường C); Vắng mặt.

Người bị hại: Cháu Nguyễn Văn T, sinh năm 2002 ( đã chết)

Đại diện người bị hại: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980 và bà Trần Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Th, bà H: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Lê Quang H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu 2, phường Đ, thành phố, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt.

Anh Mạc Trung K, sinh ngày 30/01/2002 - Người đại diện hợp pháp của anh K ông Mạc Văn C, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/12/2017, Phạm Văn A (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô nhãn hiệu Woldwide Biển kiểm soát 34F7-4062 (dung tích xi lanh 97cm3) đi từ nhà đến xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến Km74+700 Quốc lộ 37 thuộc địa phận xã Q, huyện N, A đang điều khiển xe theo hướng huyện N đi thị xã C thì bị rơi mũ bảo hiểm, A không quan sát, đột ngột chuyển hướng xe vòng sang trái, mục đích quay ngược lại nhưng không có tín hiệu, không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 34AA-049.12 do anh Nguyễn Văn T điều khiển phía sau cùng chiều, chở anh Mạc Trung K. Sau khi va chạm, xe gắn máy đổ, anh T ngã văng sang phần đường dành cho xe ngược chiều, ngay lúc đó, xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 15C-263.69, rơ mooc biển kiểm soát 15R-063.45 do anh Lê Quang H điều khiển hướng thị xã C – huyện N đi tới, chèn qua người anh T. Hậu quả, Nguyễn Văn T chết trên đường đi cấp cứu.

Tại Kết luận giám định pháp y số 16 ngày 02/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận về nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn T: đa chấn thương, vết thương (gãy cột sống, vỡ xương chậu, gãy xương trụ tay phải, gãy xương đùi trái. Vết thương dập nát bẹn phải, rời tinh hoàn bên phải, thông khoang ổ bụng).

Về vật chứng: 01 xe ôtô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-063.69; 01 rơ mooc Biển kiểm soát 15R-063.45; 02 giấy chứng nhận kiểm định ATKT; 02 đăng ký rơ mooc 15R-063.45; 02 bản photo đăng ký xác nhận thế chấp của ngân hàng; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm; 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Quang H đã được trả lại cho anh Lê Quang H; 01 xe gắn máy nhãn hiệu Cup ThaiLand biển kiểm soát 34AA-049.12 đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Mạc Văn C; 01 xe môtô nhãn hiệu Woldwide biển kiểm sát 34F7-4062 đang được quản lý chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-NS ngày 17/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 BLHS; Tuyên bố Phạm Văn A phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; Xử phạt: A từ 27 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng, giao bị cáo cho UBND xã A và nhà trường giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 xe môtô nhãn hiệu Woldwide biển kiểm sát 34F7-4062; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là đúng, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và được cải tạo tại địa phương để bị cáo được tiếp theo học.

Người bào chữa cho bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, các điều khoản là đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo phạm tội lỗi vô ý, do còn nhỏ tuổi nên nhận thức còn hạn chế; bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi sự việc xẩy ra bị cáo đã tác động để bố mẹ bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bà nội bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến, áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo được tiếp tục theo học, gia đình sẽ phối hợp với nhà trường, chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục bị cáo

Đại diện người bị hại trình bày: gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại, đến nay đại diện người bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện Nam Sách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô, môtô, xe gắn máy, kết luận luận giám định pháp y, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 25/12/2017, tại Km74+700 Quốc lộ 37 thuộc địa phận xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn A điều khiển xe môtô biển kiểm soát 34F7-4062 theo hướng huyện N đi thị xã C. Do chuyển hướng không có tín hiệu, không đảm bảo an toàn nên xe môtô do Phạm Văn A điều khiển va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 34AA-049.12 do anh Nguyễn Văn T điều khiển đi cùng chiều phía sau, làm anh T ngã sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều và bị xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 15C-263.69, rơ mooc biển kiểm soát 15R-063.45 do anh Lê Quang H điều khiển chèn qua người. Hậu quả, anh Nguyễn Văn T chết trên đường đi cấp cứu.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người dân. Bị cáo có đầy đủ nặng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe theo quy định, chuyển hướng đột ngột không có tín hiệu là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện do cẩu thả dẫn đến hậu quả nghiêm trọng làm 1 người bị chết. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia định tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa người bào chữa của bị cáo trình bày bà nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS là không có căn cứ nên HĐXX không chấp nhận đề nghị này. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Phạm Văn A chưa đủ 18 tuổi nên HĐXX áp dụng Điều 91, Điều 101 BLHS khi quyết định hình phạt cho bị. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi phạm tội bị cáo chưa thành niên nên khả năng nhận thức còn hạn chế. Bị cáo hiện đang là học sinh Trường C, tại phiên tòa đại diện gia đình, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện tiếp tục đi học, gia đình sẽ phối hợp với địa phương, nhà trường giám sát, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội. Một trong các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại BLHS là việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành người công dân có ích cho xã hội. Do đó HĐXX áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra ngày 25/12/2017 nhưng tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử vụ án BLHS năm 2015 đã có hiệu lực, các điều khoản của BLHS năm 2015 áp dụng đối với bị cáo về mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ không có thay đổi so với BLHS năm 1999, các điều luật quy định đối với người chưa thành niên phạm tội có lợi hơn nên áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn A và đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường cho gia đình gia đình người bị hại, đại diện người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên không giải quyết.

Về vật chứng: Đối với 01 xe ôtô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-063.69, 01 rơ mooc Biển kiểm soát 15R-063.45 02, giấy chứng nhận kiểm định ATKT, 02 đăng ký rơ mooc 15R-063.45, 02 bản photo đăng ký xác nhận thế chấp của ngân hàng, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Quang H Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Quang H; đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Cup ThaiLand biển kiểm soát 34AA-049.12 Cơ quan điểm tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là ông Mạc Văn C là phù hợp. Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Woldwide biển kiểm sát 34F7-4062 của bị cáo nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS; trả lại cho bị cáo 01 đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Văn C tại phiên tòa (tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án).

Đối với anh Lê Quang H là người điểu khiển xe đầu kéo, không có lỗi nên không đặt ra xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn A 27 ( Hai mươi bảy ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 54 ( Năm mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án 18/6/2018.

Giao bị cáo Phạm Văn A cho UBND xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương và Trường C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo 01 xe môtô nhãn hiệu Woldwide biển kiểm sát 34F7-4062

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nam Sách và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách ngày 24/5/2018);

Trả lại cho bị cáo 01 đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Văn C tại phiên tòa (tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Phạm Văn A phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ