- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Minh N cùng ĐB phạm tội Lạm dụng tín nhiếm chiểm đoạt tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội lạm dụng tín…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng h ình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH TỈNH KI ÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HSST Ngày 16/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG H
ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH, TỈNH KI ÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử s
ơ th ẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ T ọa phi ên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Hoàng Ân
2/ Ông Nguyễn Th ành Thái
- Thư k ý ghi biên bản phi ên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang
– Thư k ý Tòa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh
- Kiểm sát vi ên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở T òa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang, xét xử công kha i sơ th ẩm vụ án h ình sự thụ lý số
: 15/2018/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2018, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t
ài sản và tiêu thụ tài sản do ng ư ời khác phạm tội m
à có” theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số
: 29/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Dương Minh N; sinh năm 1992; HKTT: Số 219/19A VTT, khu phố QTr, phư ờng VQ, thành phố RG, tỉnh KG; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Tài xế ; Quốc tịch: Việt Na m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Hoàng Tr; sinh năm 1972 và bà Phạm Thị M ; sinh năm 1973; Vợ t ên Dương Th ị H O; sinh năm 1994 và có 01 ngư ời con sinh năm 201 5; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị đư ợc cho tại ngoại để điều tra
cho đến nay (có mặt).
2/ Châu Quốc C ; sinh ngày 25/4/1975; HKTT: ấp HT, xã MT, huyện CT, tỉnh KG; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Tài xế xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Châu Kết L ; sinh năm 1958 và bà Sầm Thị D ; sinh năm 1957; Vợ t ên Lê Thúy H; sinh năm 1976 và có 02 ngư ời con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đ ư ợc cho tại ngoại để điều tra cho đến
nay (có mặt ).
Ngư ời bị hại : Anh Phạm Văn P; sinh năm 1982 (có mặt)
HKTT: ấp LQ, xã LQ, huyện HĐ, tỉnh KG
Chổ ở hiện nay:
Số 08 NHĐ, P. RS, TP. RG, tỉnh KG
Ngư ời có quyền lợi, n
ghĩa vụ li ên quan: Ông Huỳnh Long T ; sinh năm 1967 (có mặt)
Trú tại: Tổ 01, ấp
TT, xã GT, huyện CT, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đ ư ợc tóm tắt nh ư sau:
Dương Minh N là tài xế xe tả i số 68C – 021.95 do anh Phạm Văn P HKTT: ấp LQ, xã LQ, huyện HĐ, tỉnh KG làm chủ h ành nghề dịch vụ vận tải thu
ê. Vào sáng ngày 21/9/2017 anh P nhận đ ư ợc hợp đồng của chị Thái Ng Tr l
à Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một th
ành viên H T ở th ành phố GR, tỉnh KG thuê vận chuyển 1.300 kết bia S ài Gòn đỏ ch ưa qua s ử dụng từ nh
à máy bia Kiên Giang đóng trên địa b àn xã TL, huyện CT, tỉnh Ki ên Giang đến huyện Ki ên Lương. Đ ến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày anh P phân công N chạy xe tải đến nh à máy bia SGKG để nhận 1.300 kết bia chở đến huyện Ki
ên Lương giao cho khách hàng. Sau khi nhận h àng xong N điều khiển xe ra khỏi cổng
khu Công Nghiệp th ì N nảy sinh ý định chiếm đoạt 224 kết
bia đem bán lấy tiền trả nợ. N điện thoại cho ng
ư ời bạn t ên Th (không rõ địa chỉ, họ t ên) để nhờ t ìm ngư ời mua bia. Sau đó , Th điện thoại cho Châu Quốc C l à ngư ời chuy ên đi giao hàng cho các nơi nói có ngư ời bạn còn dư 224 k ết bia S ài Gòn đỏ muốn bán v à hỏi C có mua không th ì C đồng ý mua, T nói với C l à ngư ời bán bia đang đậu chiếc xe
tải m àu vàng ở đoạn tr ư ớc cổng khu công nghiệp TL huyện CT, tỉnh Ki ên Giang. Một lúc sau, C điều khiển xe chạy đến n ơi th ì thấy N đang đậu xe đợi chờ sẵn, khi cả hai gặp nhau N nói với C còn dư 224 k ết bia s ài gòn đỏ muốn bán luôn cả bia v à kết nhựa với gi
á 140.000đồng. Lúc n ày C biết số bia n ày không phải của N nh ưng do th ấy giá thấp và bán lại có lời nhiều n ên đồng ý mua, C gọi điện cho
ông Huỳnh Long T l à chủ đại lý bia ở chợ
GT là nơi C hay giao hàng và nói “có ngư ời k êu bán 224 kết bia với giá 170.000đ ồng anh có mua không” ông T đồng ý mua v à kêu C chở bia đến quán LT giao cho ông T 224 kết bia S ài Gòn đỏ v à ông T giao cho C 38.080.000đồng, C trả cho N số tiền
31.360.000 đồng, số
tiền c òn lại l à 6.720.000đồng C cất giữ rồi chạy xe về nh
à. Đến sáng ng ày 22/9/2017 anh P đến b ãi giữ xe ở ph ư ờng RS thì thấy xe chở bia vẫn c òn đậu tại đây n ên kêu N chở đi giao cho khách hàng. Sau đó N điều khiển xe đến huyện Ki
ên Lương. Khi xe v ừa đến dốc cầu Ông Hiển th ì tắt máy v à tuộc dốc. N đậu xe lại kiểm tra th
ì bị nhữn g mảnh vở chia bia đâm đứt chân n ên N điện thoại cho anh P hay rồi đi bệnh viện điều trị vết th ương. Sau đó, anh P đ ến chỗ xe đậu kiểm tra th
ì phát hiện tr ên xe bị mất 224 kết bia s ài gòn đỏ n ên đến Công an ph ư ờng Vĩnh Hiệp, th ành phố rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tố giác vụ việc tr ên. Qua làm việc N thừa nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m ình.
Tại bản kết luận định giá số
: 78/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2017 của Hội đồng định giá t ài sản huyện Châu Th ành kết luận: 224 kết hia s ài gòn đỏ có giá trị là 45.696.000đồng ..
Vật chứng trong vụ án:
224 kết bia S ài Gòn đỏ ch ưa qua s ử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại anh P đ
ã nhận lại t ài sản 224 kết bia S ài Gòn đỏ và không yêu cầu g ì không xem xét .
- Đối với ng ươi có quy ền lợi nghĩa vụ li
ên quan: Ông Huỳnh Long T y êu cầu bị c áo N phải trả lại số tiền
31.360.000đồng cho ông, N chấp nhận bồi th ư ờng. Bị c áo N đã bồi th ư ờng đ ư ợc 15.000.000đồng, buộc bị c
áo N tiếp tục bồi th
ư ờng cho ông T số tiền 16.360.000đồng
.
Trong quá trình điều tra bị c áo Châu Quốc C đ ã giao nộp lại số ti
ền 6.720.000 đồng v à Cơ quan đi ều tra đ ã trả lại cho T số tiền tr
ên là có căn cứ ..
Đối với chiếc điện thoại N v
à C dùm liên lạc để phạm tội, qua l
àm việc N khai đã làm mất ở đâu không nhớ, n
ên không tịch thu đ ư ợc.
Tại bản cáo trạng số : 22/CT- VKS –CT ngày 23/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang đã truy tố bị cáo Dương Minh N về tội : “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản ” theo điểm a khoản 1 Điều 1 40 Bộ luật h ình sự năm 1999 và truy tố bị cáo Châu Quốc C về tội “ Tiêu thụ tài sản do ngư ời khác phạm tội m à có” theo quy định tại khoản
1 Điều 250 Bộ luật h ình sự năm 1999.
Tại phi ên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị
cáo Dương Minh N phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t ài sản” và truy tố bị cáo Châu Quốc C về tội “ Tiêu thụ tài sản do ngư ời khác phạm tội m à có”.
Và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 1 40 BLHS năm 1999; điểm i, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 và Điều 3 8 BLHS năm 2015, xử phạt b ị cáo Dương Minh
N từ 03 đến 06 tháng tù.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm i, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo
Châu Quốc C từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hư ởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng
.
Về biện pháp t ư pháp đề ng hị HĐXX Toà án nhân dân huyện Châu Th ành áp dụng Điều 4 8 Bộ Luật h ình sự năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017
, Điều 585 và Điều 589 BLDS năm 2015 buộc Dương Minh N tr ả lại cho ông Huỳnh Long T số tiền c òn lại l à 16.360.000 đồng.
Các bị cáo, ngư ời bị hại
và ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li
ên quan không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Các bị cáo đ ư ợc nói lời nói sau c ùng, các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ h ình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phi
ên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy nh ư sau:
- Về h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr
ình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự . Quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h
ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó, các h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan tiền h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phi ên tòa, bị cáo đ ã thừa nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m ình như b ản Cáo trạng đ ã nêu. Lời khai của bị cáo ph ù hợp lời khai tại C
ơ quan đi ều tra và phù hợp với các t ài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s
ơ, th ể hiện: Dương Minh N là tài xế xe tải do anh Phạm Văn P chủ h
ành nghề dịch vụ v ận tải thu ê. Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ng ày 21/9/2017 anh P điều động N đến nh à máy bia Kiên Giang trú tại x ã TL, huyện CT nhận 1.300 kết bia S ài Gòn đỏ chở l ên huyện Kiên Lương để giao cho khách. Sau khi nhận bia xong, N điều khiển xe ra khỏi cổng khu công Nghiệp th ì N liền nảy sinh ý định chiếm đoạt một số bia tr
ên xe đem bán lấy tiền ti êu xài cá nhân. N điện thoại cho Th (không rỏ nhân thân lai lịch) nhờ t ìm ngư ời mua bia dùm thì Th đồng ý v à gọi điện cho Châu Quốc C nói có ngư ời k êu bán bia ở tr ư ớc cổng khu công nghiệp Thạnh Lộc. C liền điều khiển xe đến khu công nghiệp TL thì gặp N khi cả hai gặp nhau N ngã giá bán cả bia, v õ bia và kết nhựa với gi
á 140.000 đồng /kết (giá thị tr ư ờng 204.000 đồng). Lúc n ày C biết đ ư ợc số bia tr ên không phải c ủa N nh ưng v ì hám lợi C đồng ý mua. Sau khi mua đư ợc số bia tr ên C đem bán lại cho ông Huỳnh Long T với giá 170.000 đồng/ kết, C thu lợi đ ư ợc 6.720.000 đồng. Theo nh ư k ết quả định giá t ài sản th ì 224 bia sài gòn đỏ v à kết nhựa đựng v
õ chai bia có giá trị l à 45.696.000 đồng . Đối chiếu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999 thì “Ngư ời n ào có một trong những h ành vi sau đây chiếm đoạt t ài sản của ng ư ời khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến d
ư ới năm m ươi tri ệu đồng hoặc d ư ới bốn triệu đồng nh
ưn g gây hậu quả nghi êm trọng hoặc đ ã bị xử phạt h ành chính về h ành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt t
ài sản, ch ưa đư ợc xoá án tích m à còn vi phạm, th ì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt t
ù từ ba tháng đến ba năm: a) Vay, mư ợ n, thuê tài sản của ng ư ời khác hoặc nhận đ
ư ợc t ài sản của ng ư ời khác bằng các h ình thức hợp đồng rồi d
ùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt t ài sản đó” . Như v ậy, hành vi lợi dụng l òng tin để chiếm đoạt 224 kết bia s
ài gòn đỏ có giá trị l à 45.696.000 đồng của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu th
ành tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t
ài sản ” như đ ã viện dẫn n êu trên. Đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 250 BLHS năm 1999
thì “1. Ngư ời n ào không hứa hẹn trư ớc m à chứa chấp, ti êu thụ t ài sản biết r õ là d o ngư ời khác phạm tội m
à có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm m
ươi tri ệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt t ù từ sáu tháng đến ba năm ”. Như v ậy, việc bị cáo C biết rỏ số l ư ợng bia m à N kêu bán là tài sản bất hợp pháp nh ưng v ì hám lợi m à C vẫn mua để thu lợi bất chính cho bản thân đ
ã đủ yếu tố cấu th
ành tội “Ti êu thụ t ài sản do ng ư ời khác phạm tội mà có” như đ ã nêu trên.
Hành vi phạm tội của các bị cáo l
à nguy hiểm cho x ã hội, không những đ ã xâm phạm trực tiếp đến t
ài sản hợp pháp của ng ư ời bị hại m à còn gây mất an ninh trật tự tại địa ph
ương nơi x
ảy ra vụ án.
Xét hành vi phạm tội của từng bị cáo, HĐXX nhận thấy:
- Đối với bị cáo N l à ngư ời có đủ năng lực nhận thức việc tự ý lấy t
ài sản của ng ư ời khác, cụ thể l
à lấy bia của anh P đem bán khi chưa đư ợc sự đồng ý của anh P là vi phạm pháp luật. Thế nh ưng ch ỉ v ì tham lam và lợi dụng sự quen biết tin tư ởng của anh P giao cho bị cáo chở 1.300 kết bia s
ài gòn đỏ giao cho khách để rồi khi nhận đ ư ợc bia bị cáo lại gian dối chiếm dụng lạ
i 224 kết bia sài gòn đỏ đem bán lấy tiền ti êu xài cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến t ài sản hợp pháp của anh Phong m à còn gây dư lu ận xấu trong x ã hội, tạo n ên tâm lý bất an, sự thiếu tin t ư ởng lẫn nhau trong
cuộc sống x ã hội hiện nay.
- Còn đối với bị cáo
C mặc d ù nhận thức đ ư ợc 224 kết bia m à N kêu bán cho bị cáo l à tài sản bất hợp pháp v ì trên thực tế giá mỗi kết nhựa đựng v
ỏ chai bia và nư ớc bia sài gòn đỏ l à 204.000 đồng, trong khi đó N k êu bán cho bị cáo chỉ với 140.000 đồng. Từ
lợi nhuận thu đ ư ợc khá cao mà bị cáo đ ã bất chấp pháp luật đồng ý mua to àn bộ số bia tr ên để đem bán lại cho ông T , thu lợi đ ư ợc 6.720.000 đồng. Từ h ành vi sai phạm của bị cáo đ ã tiếp tay tạo điều kiện cho N thực hiện hành vi phạm tội đ ư ợc hoàn thành trót lọt, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra và xử lý ng ư ời phạm tội.
Với h ành vi phạm tội của các bị cáo, HĐXX nghị án thảo luận cần có mức
tương x ứng để răn đe, giáo dục các bị cáo, đồng
thời cũng nhằm ngăn ngừa chung cho xã hội.
– Xét về t ình tiết giảm nhẹ
: Tại phi ên tòa các bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân các bị cáo tốt không có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu v à thuộc tr ư ờng h ợp ít nghi êm trọng n ên cần áp dụng
các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đư ợc quy định tại điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Ngoài ra cho thấy bị cáo C là ngư ời có n ơi cư trú r ỏ r àng, bị cáo chỉ nhất thời phạm tội
số tiền thu lợi không lớn n
ên cần xem xét áp dụng th êm Điều 6 5 BLHS năm 2015 cho bị cáo cũng l à phù hợp . Từ những phân tích n êu trên, HĐXX nghị án thảo luận
sẽ xem xét hình phạt khi l ư ợng h ình để có mức án ph ù hợp đối với từng hành vi phạm tội của mỗi bị cáo
nhằm để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho
gia đình và xã hội , đồng thời cũng nhằm thể hiện chính sách kh oan hồng của Đảng v à nhà nư ớc .
- Xét đề nghị của
vị đại diện V iện kiểm sát tại phi ên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng nh ư vi ệc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án l
à có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự:
5.1 Trong quá trình điều tra C ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã thu hồi 224 kết bia s ài gòn đỏ của ông Huỳnh Long T để đ
ã trả lại cho ngư ời bị hại anh Phạm V
ăn P. Do tài sản đ ã nhận lại đầy đủ n
ên anh P không yêu cầu các bị cáo phải bồi th ư ờng g ì thêm nên HĐXX không xem xét.
5.2 Tại t òa ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan ông Huỳnh Long T yêu cầu N và C trả lại cho ông số tiền 38.080.000 đồng m
à ông đã bỏ ra mua 224 kết bia s à i gòn đỏ từ N v à C nhưng hi ện tại ông T đã nhận lại đ ư ợc 15.000.000đồng từ bị cáo N và 6.720.000 đồng từ bị cáo C, c òn lại 16.360.000 đồng ông T y êu cầu bị cáo N phải tiếp tục bồi th
ư ờng , ngoài ra ông không yêu cầu g ì thêm. Bị cáo N đồng ý tiếp tục trả
số tiền 16.360.000 đồng c òn lại cho ông T. Xét sự thỏa thuận tr
ên là tự nguyện v à không trái pháp luật n ên HĐXX ghi nhận để xem xét.
- Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 224 kết bia s ài gòn đỏ mà Công an đã thu giữ v à đây là tài sản của ông Phạm Văn P nên trong quá trình điều tra C ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th ành đã tiến h ành trao trả lại cho anh P. Xét việc trao trả t ài sản tr ên là đúng pháp luật n ên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Xử buộc
các bị cáo N và C phải có ngh ĩa vụ nộp án phí Hình sự s ơ th ẩm , ngoài ra bị cáo N c òn phải nộp th êm án phí dân sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾ T ĐỊNH :
Tuyên bố b ị cáo Dương Minh N phạm tội: “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản ”, bị cáo Châu Quốc C phạm tộ i “Tiêu thụ tài sản do ng ư ời khác phạm tội mà có”
1/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 1 40 BLHS năm 1999 đư ợc sữa đổi bổ sung
năm 2009; điểm i, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 và Điều 3 8 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi b ổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Dương Minh N 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ng
ày bị cáo đi chấp h ành án.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 250 BLHS năm 1999 đư ợc sữa đổi bổ sung năm
2009; điểm i, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi b ổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Châu Quốc C 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hư ởng án treo, thời gian thử thách l
à 12 (mư ời hai) tháng, tính từ ng ày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Châu Quốc C cho Ủy ban nhân dân x
ã MT, huyện CT, tỉnh KG giám sát, giáo dục trong thời gian chấp h
ành án.
Về trách nhiệm dân sự
áp dụng Điều 48 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017; Điều 585 và Điều 589 BLDS năm 2015 xử buộc bị cáo D ương Minh N phả i trả lại cho ông Huỳnh Long T
số tiền 16.360.000 đồng.
Về á n phí áp dụng khoản 2 Điều 99 BLTTHS và Điều 2 3 nghị Q uyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử buộc các bị cáo Dương Minh N và Châu Qu ốc C mỗi ng ư ời phải nộ p 200.000đồng tiền án phí hình sự s ơ th ẩm, ngo ài ra bị cáo N còn phải nộp th êm (16.360.000 đồng x 5%) = 818.000 đồng tiền án phí dân sự sơ th ẩm.
Báo cho các bị cáo , ngư ời bị hại
và ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li
ên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày, kể từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.
Trư ờng hợp quyết định đ
ư ợc thi h ành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sử a đổi, bổ sung năm 2014 th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h
ành án, quyền y êu cầu thi hành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b v à 9 Luật Thi h ành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi h ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h
ành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nh ận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S
Ơ TH ẨM
- TAND tỉnh Ki ên Giang;
| - Sở t ư pháp t ỉnh Ki ên Giang; - VKSND huyện Châu Th ành; - Công An huyện Châu Th ành; - Chi cục THADS huyện Châu Th ành; - Bị cáo; ng ư ời bị hại v à NLQ; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Nguyễn Thanh Phong |