vanban.org

Bản án 27/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phước Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 04/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HS bị cáo Đặng Thị Thanh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHƯỚC LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2018/HS-ST
Ngày 04 tháng 5 năm 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai

Ông Nguyễn Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

tham gia phiên toà: Ông Dương Xuân Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án Nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2018/TLST - HS ngày 06 tháng 04 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 21/2018/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 03 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thị Thanh N, Sinh năm: 1990; Tại: Bình Phước; Nơi cư trú: Khu phố S, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Đặng Viết C, sinh năm 1953; Mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1963; Bị cáo có 05 anh chị em lớn nhất sinh năm 1986 nhỏ nhất sinh năm 1997 bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Bị cáo có 01 người con ngoài giá thú sinh năm 2014; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2018 đến nay.

Người làm chứng: Anh Trần Văn M, sinh năm 1990. (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố S, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 08/01/2018 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp với Công an phường L tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ của bà Cao Thị Hòa ở Khu phố B, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước phát hiện tại phòng trọ của đối tượng Đặng Thị Thanh N ở trên gối ngủ có 01 tẩu sử dụng ma túy đá, trong túi xách màu đen của chị N có 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá.

Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng bao gồm 01 tẩu sử dụng ma túy đá, 01 túi xách màu đen và 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá.

Qua làm việc đối tượng N khai nhận: Vào ngày 04/01/2018, N đi xuống Bình Dương chơi với bạn tên là Y nhà ở huyện B. Quá trình đi chơi Yến hỏi N còn sử dụng ma túy không, N trả lời vẫn còn sử dụng ma túy, sau khi nghe N nói vậy thì Y nói N ở lại để Y đi mua ma túy đá về sử dụng. Khoảng 15 phút sau Y quay lại đưa cho N 01 bịch ma túy và N đưa cho Y 500.000đ rồi bỏ bịch ma túy vào ngăn nhỏ ngoài cùng giỏ sách màu đen. Đến 15 giờ cùng ngày N bắt xe về lại thị xã Phước Long. Đến ngày 06/01/2018, N lấy một ít ma túy đá mà Y đưa để sử dụng, số còn lại N bỏ lại giỏ sách, đến ngày 08/01/2018, khi lực lượng Công an vào kiểm tra thì N giao số ma túy trong giỏ sách ra cho cơ quan Công an.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 10/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon(ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamaphetamin, trọng lượng: 0,5046 gam.

Đối với 0,3268 gam Methamaphetamin hoàn lại sau giám định, 01 tẩu sử dụng ma túy đá, 01 túi xách màu đen là tang vật của vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKS ngày 03 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố bị cáo Đặng Thị Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đặng Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo có cha là người có công với cách mạng, bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm s, x khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đặng Thị Thanh N mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3268 gam Methamaphetamin hoàn lại sau giám định, 01 tẩu sử dụng ma túy đá, 01 túi xách màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Phước Long, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đặng Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định:

Vào ngày 04/01/2018, N đi xuống Bình Dương chơi với bạn tên là Y nhà ở huyện B (không rõ nhân thân lai lịch). Quá trình đi chơi Y có hỏi N còn sử dụng ma túy không, N trả lời vẫn còn sử dụng ma túy, sau khi nghe N nói vậy thì Y nói N ở lại để Y đi mua ma túy đá về sử dụng. Khoảng 15 phút sau Y quay lại đưa cho N 01 bịch ma túy và N đưa cho Y 500.000 đồng rồi bỏ bịch ma túy vào ngăn nhỏ ngoài cùng giỏ sách màu đen. Đến 15 giờ cùng ngày N bắt xe về lại thị xã Phước Long. Đến ngày 06/01/2018, N lấy một ít ma túy đá mà Y đưa để sử dụng, số còn lại N bỏ lại giỏ sách, đến ngày 08/01/2018, khi lực lượng Công an vào kiểm tra thì N giao số ma túy trong giỏ sách ra cho cơ quan Công an.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 10/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamaphetamin, trọng lượng: 0,5046 gam.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng của bị cáo Đặng Thị Thanh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật xử lý. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có ma túy sử dụng bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Trọng lượng chất Methamphetamin bị cáo tàng trữ là 0,5046 gam.

Do vậy, Viện kiểm sát Nhân dân thị xã Phước Long truy tố bị cáo Đặng Thị Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các bệnh tật và tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần phải xử bị cáo mức án thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha là người có công với cách mạng, hiện đang nuôi con nhỏ đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, x khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần xem xét khi lượng hình.

. Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,3268 gam Methamaphetamin hoàn lại sau giám định, 01 tẩu sử dụng ma túy đá, 01 túi xách màu đen cần tịch thu tiêu hủy.

Về quan điểm của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Thị Thanh N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

. Căn cứ vào điển c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sủa đổi bổ sung năm 2017; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1 mục I danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2018.

. Về vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 0,3268 gam Methamphetamin còn lại sau giám định , 01 tẩu sử dụng ma túy đá, một túi xách màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0003528 ngày 04/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước).

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Thị Thanh N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi Nhận:

Cỡ chữ