- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Văn D, cho anh Bùi Văn D được ly hôn chị Bùi Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 59 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 61 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 81 Luật Hôn Nhân- Gia Đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31/8/2018 V/v Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Thiệu và ông Bùi Văn Tấn
- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hồng- Thư ký Toà án huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Lê Xuân Trường- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2018 về tranh chấp ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXX-ST ngày 04/8/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bùi Văn D, sinh năm 1987. Cư trú và làm việc: xóm Củ 1, xã Qúy Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (có mặt);
- Bị đơn: Bùi Thị T, sinh năm 1989. Cư trú và làm việc: xóm Củ 1, xã Qúy Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (có mặt).
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Quách Thị Phươn, sinh năm 1957. Cư trú và làm việc: xóm Củ 1, xã Qúy Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (có mặt);
+ Bùi Văn T, sinh năm 1991. Cư trú và làm việc: xóm Củ 1, xã Qúy Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (có mặt).
+ Bùi Văn T. Cư trú và làm việc: xóm Củ 1, xã Qúy Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Bùi Văn L. Cư trú và làm việc: xóm Củ 1, xã Qúy Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn anh Bùi Văn D trình bày:
1. Về hôn nhân:
Anh và chị Bùi Thị T có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do không biết nhường nhịn nhau, nhiều lần cãi vã thậm chí đánh đập nhau khiến cuộc sống chung căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc. Hiện chị T bỏ về nhà ngoại sống ly thân với anh D từ tháng 9/2017 đến nay dù anh D và gia đình lên đón về nhưng chị T không về. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh D xin ly hôn.
2. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Bùi Thị Lệ Quyên, sinh ngày 17/12/2009; Bùi Minh Vũ, sinh ngày 30/11/2011; Bùi Tiến Năng, sinh ngày 16/3/2014. Hiện chị T bỏ đi và mang theo cả 03 con về nhà ngoại, nên anh D rất khó khăn trong việc thăm nom các con. Khi ly hôn, anh D xin được trực tiếp nuôi cháu Bùi Tiến Năng do chỉ có cháu Năng là gắn bó với bố, cháu Quyên và cháu Vũ đã lớn và chỉ nghe lời mẹ, không có tình cảm với bố. Anh D chưa đặt ra vấn đề cấp dưỡng con chung.
3. Về tài sản chung: anh D trình bày anh chị có những tài sản chung sau:
+ 01 con bò nuôi theo dự án đã bán được 14.500.000đ.
+ 01 xe máy nhãn hiệu Wave BKS 28N1- 10565 trị giá 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) và 01 chiếc máy cầy tổng trị giá 6.000.000đ phần góp của gia đình anh D là 3.000.000đ (còn lại là phần góp của ông Bùi Văn Thỉnh). Số tài sản này được mua bằng tiền mai táng phí của bố anh D đã mất do tai nạn lao động nhưng do anh D và gia đình không chứng minh được nên anh D và gia đình chấp nhận là tài sản chung để chia.
Trên thực tế vợ chồng anh D, chị T sống cùng với mẹ đẻ của anh D là bà Quách Thị Phươn. Bà Phươn cũng có công sức và tài sản đóng góp tích cực vào khối tài sản trên. Quá trình giải quyết vụ án, anh D đề nghị chia số tài sản chung trên làm 03 phần gồm phần của anh D, chị T và bà Phươn. Anh D đề nghị được sử dụng toàn bộ tài sản chung trên và sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản chung cho chị T là 8.165.000đ (Tám triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, xét công sức đóng góp của chị T và muốn tạo điều kiện cho chị T có tiền trang trải cuộc sống sau ly hôn nên dù điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nhưng anh D chấp nhận thanh toán cho chị T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tiền chia tài sản và trợ cấp sau ly hôn cho chị T.
+ Đối với 02 con bò cái mua tháng 04/2017 là do anh Tích- em trai anh D gửi tiền từ nước ngoài về mua và là tài sản riêng của anh Tích nên anh D, anh Tích không đồng ý chia cho chị T. Việc mua bò có sự chứng kiến của anh Bùi Văn Lợi vì bản thân anh Lợi là bạn của anh Tích có cho anh Tích vay tiền với mục đích mua bò cho bà Pươn và anh D nuôi.
4. Về công nợ chung: không có.
Ngoài ra anh D không có yêu cầu gì thêm.
Quan điểm của chị Bùi Thị T:
1. Về hôn nhân: Chị T trình bày dù vợ chồng không có hạnh phúc nhưng chị không đồng ý ly hôn. Chị bỏ về nhà ngoại là để chữa bệnh sỏi thận khi nào khỏi bệnh chị sẽ về sống với anh D.
2. Về con chung: Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 03 con chung và chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung với chị.
3. Về tài sản chung: Tại phiên tòa, chị T nhất trí về số lượng và giá trị tài sản chung như anh D trình bày. Trong quá trình hòa giải, chị yêu cầu anh D thanh toán cho chị 50.000.000đ. Nhưng tại phiên tòa, chị T chấp nhận số tiền 20.000.000đ của anh D thanh toán cho chị tiền chênh lệch chia tài sản và trợ cấp sau ly hôn.
4. Về công nợ chung: không có.
Ngoài ra chị T không có yêu cầu gì thêm.
Quan điểm của anh Bùi Văn Tích:
Thống nhất với ý kiến và sự thỏa thuận của anh D và chị T và không bổ sung gì thêm.
Quan điểm của bà Quách Thị Phươn:
Thống nhất với ý kiến và sự thỏa thuận của anh D và chị T. Bà không yêu cầu xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của gia đình và chấp nhận giao toàn bộ tài sản cho anh D sử dụng. Ngoài ra bà không có ý kiến gì thêm.
Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:
Về hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa anh D và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận đề nghị ly hôn của anh D.
Về con chung: Xét nguyện vọng và điều kiện mọi mặt của các bên đương sự và con chưa thành niên, nên cần giao anh D trực tiếp nuôi cháu Bùi Minh Vũ, sinh ngày 30/11/2011; giao chị T trực tiếp nuôi 02 con chung là Bùi Thị Lệ Quyên, sinh ngày 17/12/2009 và cháu Bùi Tiến Năng, sinh ngày 16/3/2014 là phù hợp. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do các bên đương sự không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Căn cứ vào nhu cầu thực tế, công sức đóng góp cũng như để đảm bảo thi hành án đề nghị HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận giữa anh D và chị T: anh D có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản và trợ cấp sau ly hôn cho chị T 20.000.000đ.
Về công nợ chung: không có nên đề nghị không đề cập.
Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đó được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bùi Văn Thỉnh vắng mặt nhưng có quan điểm rõ ràng, chi tiết và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án và xác minh tại địa phương HĐXX xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị T là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do không nhường nhịn nhau và chị T bỏ đi sống ly thân với anh D từ tháng 9/2017 đến nay. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh D và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D là phù hợp Điều 51; Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Bùi Thị Lệ Quyên, sinh ngày 17/12/2009; Bùi Minh Vũ, sinh ngày 30/11/2011; Bùi Tiến Năng, sinh ngày 16/3/2014, anh D xin được trực tiếp nuôi cháu Bùi Tiến Năng. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 03 con chung. Hai bên chưa đặt ra vấn đề cấp dưỡng con chung.
Quá trình giải quyết vụ án, cháu Quyên và cháu Vũ trình bày nguyện vọng muốn ở với mẹ vì các cháu đã gắn bó với mẹ và không có tình cảm với bố. Theo kết quả xác minh tại địa phương thấy: hiện tại anh D và chị T đều có công việc và chỗ ở ổn định đủ khả năng nuỗi dưỡng, chăm sóc giáo dục con cái. Xuất phát từ điều kiện thực tế của các bên đương sự và quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên; căn cứ các Điều 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh D là giao cháu Bùi Tiến Năng cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Bùi Thị Lệ Quyên và Bùi Minh Vũ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Hai bên có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh D chưa đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương về điều kiện nuôi con của chị T và anh D; Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy chưa cần thiết giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
. Về tài sản chung: Anh D, chị T có những tài sản chung sau:
+ 01 con bò nuôi theo dự án đã bán được 14.500.000đ;
+ 01 xe máy nhãn hiệu Wave BKS 28N1- 10565 trị giá 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) và 01 chiếc máy cầy tổng trị giá 6.000.000đ trong đó phần góp của gia đình anh D là 3.000.000đ (còn lại là phần góp của ông Bùi Văn Thỉnh). Số tài sản này được mua bằng tiền mai táng phí của bố anh D đã mất do tai nạn lao động nhưng do anh D và gia đình không chứng minh được nên anh D và gia đình chấp nhận là tài sản chung để chia.
Trên thực tế vợ chồng anh D, chị T sống cùng với mẹ đẻ của anh D là bà Quách Thị Phươn. Bà Phươn cũng có công sức và tài sản đóng góp tích cực vào khối tài sản trên nên anh D đề nghị chia số tài sản chung trên làm 03 phần gồm phần của anh D, chị T và bà Phươn. Quá trình giải quyết vụ án, anh D đề nghị được sử dụng toàn bộ tài sản chung trên và sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản chung cho chị T là 8.165.000đ (Tám triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, xét công sức đóng góp của chị T và muốn tạo điều kiện cho chị T có tiền trang trải cuộc sống sau ly hôn nên dù điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nhưng anh D chấp nhận thanh toán cho chị T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tiền chia tài sản và trợ cấp sau ly hôn cho chị T.
Quan điểm của bà Phươn, thống nhất với ý kiến và sự thỏa thuận của anh D và chị T. Bà không yêu cầu xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của gia đình và chấp nhận giao toàn bộ tài sản cho anh D sử dụng. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì thêm.
Căn cứ Điều 59; 61 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ nhu cầu sử dụng và tình hình thực tế của các bên đương sự cần chấp nhận yêu cầu của anh D giao toàn bộ tài sản chung cho anh D sử dụng. Anh D có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản và trợ cấp sau ly hôn cho chị T là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Đối với 02 con bò cái mua tháng 04/2017, HĐXX xét thấy: Theo quan điểm của anh D và anh Tích, số bò này là do anh Tích- em trai anh D gửi tiền từ nước ngoài về mua và là tài sản riêng của anh Tích nên anh D, anh Tích không đồng ý chia cho chị T. Việc gửi tiền về mua bò có sự chứng kiến của anh Bùi Văn Lợi vì bản thân anh Lợi là bạn của anh Tích có cho anh Tích vay tiền với mục đích mua bò cho mẹ và anh trai nuôi. Tại phiên tòa, chị T cũng đồng ý đó là tài sản riêng của anh Tích. Xét sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện và không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận và không đề cập giải quyết trong vụ án.
. Công nợ chung: Hai bên khai nhận không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
. Về án phí: anh D, chị T phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điều 51; khoản 1 Điều 56; 59; 61; 81; 82; 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình năm 2014; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Văn D, cho anh Bùi Văn D được ly hôn chị Bùi Thị T.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Tiến Năng, sinh ngày 16/3/2014 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Bùi Thị Lệ Quyên, sinh ngày 17/12/2009 và Bùi Minh Vũ, sinh ngày 30/11/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 8/2018 trở đi cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Hai bên chưa đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Hai bên có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: giao cho anh D sử dụng toàn bộ tài sản chung gồm:
+ 01 con bò nuôi theo dự án đã bán được 14.500.000đ;
+ 01 xe máy nhãn hiệu Wave BKS 28N1- 10565 trị giá 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) và 01 chiếc máy cầy tổng trị giá 6.000.000đ trong đó phần góp của gia đình anh D là 3.000.000đ (còn lại là phần góp của ông Bùi Văn Thỉnh).
Anh D có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản và trợ cấp sau ly hôn cho chị T là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người thi hành án không thanh toán khoản tiền phải thi hành án, thì hàng tháng phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức mức lãi xuất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự buộc anh D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh D đã nộp 300.000đ dự phí theo biên lai thu tiền số 0004433 ngày 04/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay anh D không phải nộp án phí nữa.
Chị T phải chịu 1.000.000đ (Một triệu đồng) án phí dân sự chia tài sản.
Đã báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi cư trú của bị đơn.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lạc Sơn; PHIÊN TÒA - CCTHA huyện Lạc sơn;. - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA |